Nguyễn Thị Hoài Thơ

Chế độ tiền lương của người lao động trong cơ quan nhà nước

Luật sư tư vấn: trường hợp người lao động làm việc trong cơ quan nhà nước mà người sử dụng lao động áp dụng lương thấp hơn lương tối thiểu vùng. Nội dung tư vấn như sau:

  

Xin chào luật sư! Xin phép cho tôi được hỏi. Hiện tại, tôi đang là nhân viên nhập liệu tại cơ quan nhà nước. Khi tôi kí hợp đồng lao động, là HĐ lao động ko xác định thời hạn. Tôi xin đính kèm HĐ như sau:Hiện tại, lương tối thiểu vùng 1 of TP Hồ Chí minh là 3,9 tr. Nhưng lương của tôi vẫn 3,5 tr, trừ tiền bảo hiểm 350.000 nữa. Tôi chỉ còn 3,150,000 VNĐ.Chính vì,  luơng dưới lương tối thiểu vùng,  nên tôi không được đóng bảo hiểm như pháp luật (mặc dù tháng nào họ cũng trích 350,000 k luơng của tôi).Nay cơ quan bảo hiểm không chấp nhận nhận làm sổ bảo hiểm cho tôi. Thì cơ quan tôi đang làm lại bắt tôi ký phụ lục Hợp đồng, để trả lương cho tôi là cho tôi là 2,34 x lương cơ bản +500,000 phụ cấp cơm trưa.Rõ ràng, mức luơng này thấp hơn luơng tối thiểu vùng 1.Tôi cũng không được tham gia công đoàn.Xin luật sư giúp tôi, để tôi có thể nói lý với họ, tăng lương theo đúng quy định pháp luật cho tôi.Tôi xin cảm ơn! 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tới Công ty Luật Minh gia chúng tôi, vấn đề bạn đưa ra chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Theo thông tin bạn đưa ra: bạn có giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên bạn là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014:

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động

..."

Ngoài ra theo Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định:

"Điều 21. Trách nhiệm của người sử dụng lao động

1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

3. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.

4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.

..."

Trường hợp của bạn, cơ quan hàng tháng vẫn trừ 350.000 đồng từ tiền lương của bạn với mục đích nộp bảo hiểm xã hội, nhưng khi bạn lên cơ quan bảo hiểm xã hội thì cơ quan không làm bảo hiểm xã hội cho bạn. Như vậy, người sử dụng lao động đang trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, đây là hành vi vi phạm quy định pháp luật.

Thứ hai, về tiền lương tối thiểu vùng.

Căn cứ Điều 3, Điều 4 và khoản 1 Điều 5 Nghị định số 141/2017/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động:

"Điều 3. Mức lương tối thiểu vùng

1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau:

a) Mức 3.980.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

b) Mức 3.530.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.

c) Mức 3.090.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.

d) Mức 2.760.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.

2. Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này."

Như vậy, thông tin bạn đưa ra, lương tối thiểu vùng I của thành phố Hô Chí Minh là 3.900.000 đồng, căn cứ quy định nêu trên thì người sử dụng lao động đã vi phạm về việc trả tiền lương cho người lao động thấp hơn lương tối thiểu vùng.

Tóm lại, từ 2 hành vi vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động thì NSDLĐ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, căn cứ khoản 4 Điều 13 và khoản 3 Điều 28 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định:

"Điều 13. Vi phạm quy định về tiền lương

...4. Phạt tiền người sử dụng lao động trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:

a) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động

b) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người lao động trở lên."

"Điều 28. Vi phạm các quy định khác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

...3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Không lập hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng;

b) Không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội: Giải quyết chế độ hưu, giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo đúng quy định;

c) Không giới thiệu người lao động đi giám định suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động."

Như vậy, trường hợp này, bạn có thể làm đơn kiến nghị lên Phòng Lao động-thương binh và xã hội của cơ quan - nơi chị đang làm việc để được giải quyết. Trường hợp công ty không giải quyết cho bạn thì bạn là đơn khiếu nại tới Chánh Thanh tra Sở Lao động-thương binh và xã hội.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV tư vấn: Nguyễn Thị Hằng Nga - Luật Minh Gia 

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn