1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Lao động
  • Chế độ cho người lao động khi bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ

    • 17/08/2020
    • Vy Huyền
    • Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật. Vậy những điều kiện đó được quy định như thế nào, trách nghiệp của doanh nghiệp khi chấm dứt trái luật ra sao? Để được giải đáp về vấn đề này, bạn có thể liên hệ với Luật sư để được hỗ trợ tư vấn cụ thể.

    1. Luật sư tư vấn về đơn phương chấm dứt HĐLĐ

    Trước tình hình dịch bệnh diễn ra rất phức tạp, hầu như các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn về vấn đề việc làm cho người lao động, do đó các doanh nghiệp đang có nhu cầu chấm dứt hợp đồng lao động.

    Việc chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động phải được thực hiện theo quy định pháp luật, tuy nhiên nhiều trường hợp người lao động nghỉ việc nhưng công ty không chi trả các chế độ mà họ được hưởng. Do đó, nếu bạn gặp phải vấn đề trên và chưa biết việc công ty chấm dứt hợp đồng lao động với mình có đúng quy định pháp luật hay không thì bạn có thể liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể về các vấn đề:

    - Điều kiện để doanh nghiệp được đơn phương chấm dứt HĐLĐ;

    - Các chế độ người lao động được hưởng khi chấm dứt HĐLĐ;

    - Giải quyết tranh chấp khi công ty không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với NLĐ.

    Bạn có thể gửi yêu cầu tư vấn hoặc gọi: 1900.6169 để được giải đáp vướng mắc.

    Ngoài ra, bạn có thể tham khảo trường hợp chúng tôi xử lý sau đây để có thêm kiến thức pháp lý trong lĩnh vực này.

    2. Chế độ người lao động được hưởng khi chấm dứt hợp đồng lao động

    Nội dung cần tư vấn:

    Hiện tại Công ty tôi có ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn với một lao động nữ sinh năm 1963, cô ấy đã tham gia BHXH trên 25 năm rồi.

    Thời gian qua cố ấy không hoàn thành nhiệm vụ và sinh ra thất thoát nợ nần và xin nghỉ để đi điều trị bệnh. Công ty đã giải quyết cho cô ấy đi khám chữa bệnh. Tuy nhiên, sau đó không thấy cô ấy trở lại làm việc cũng không cung cấp giấy tờ ốm đau để Công ty thanh toán chế độ. Điện thoại cho cô ấy nhiều lần nhưng cô ấy không cung cấp giấy tờ, bảo cô ấy đi trái tuyến nên không lấy giấy tờ.

    Sau đó cô ấy viết đơn xin nghỉ không hưởng lương để tiếp tục đi tái khám điều trị bệnh để lấy giấy tờ ốm đau, xin nghỉ từ 01/11/2014 và từ ngày ấy đến nay vẫn không cung cấp giấy tờ để giải quyết chế độ. Điện thoại thông báo cho cô ấy đến Công ty để làm việc rất nhiều lần nhưng cô ấy không đến.

    Vậy tôi muốn Luật sư tư vấn giúp Công ty chúng tôi hiện có thể làm thông báo mời cô ấy đến làm việc mà cô ấy vẫn không đến thì Công ty có thể ra quyết định buộc thôi việc được không. Và cô ấy có được hưởng các chế độ trợ cấp thôi việc không. Xin cảm ơn Luật sư. Mong nhận được câu trả lời sớm nhất.

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

    Thứ nhất, Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau

    1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

    a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

    b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

    Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

    c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

    d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

    a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

    c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

    Như vậy có thể thấy, khi người lao động này nghỉ chữa bệnh quá 6 tháng thì Công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (theo Điều 38 Khoản 1 Điểm b). Và Công ty phải thông báo cho người lao động này về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo thời hạn quy định tại Điều 38 Khoản 2 (45 ngày).

    Thứ hai, về chế độ cho người lao động khi Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, Điều 47 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

    1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

    2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

    3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

    4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

    Do vậy, công ty vẫn có trách nhiệm thanh toán các khoản liên quan (trường hợp này là trợ cấp thôi việc), chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động này để người này đi nhận trợ cấp thất nghiệp, bởi người lao động không thuộc trường hợp bị kỷ luật sa thải nên sẽ vẫn được hưởng chế độ như bình thường.

Bài viết nổi bật

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ miễn phí

 1900 6169