Luật sư Trần Khánh Thương

Tư vấn trường hợp gia hạn nghỉ không hưởng lương để chữa bệnh?

Nghỉ không hưởng lương là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc người lao động nghỉ việc trong một thời gian nhất định mà không được trả lương trong thời gian đó. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về nghỉ việc không hưởng lương? Thời hạn nghỉ không hưởng lương được được xác định như thế nào? Công ty Luật TNHH Minh Gia tư vấn như sau:

1. Luật sư tư vấn về pháp luật lao động

Hiện nay, pháp luật lao động không quy định rõ về nghỉ không hưởng lương mà chỉ xác định nghỉ không hưởng do sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động nên họ phải thỏa thuận về các vấn đề liên quan đến việc nghỉ việc không hưởng lương như thời hạn nghỉ, thời điểm nghỉ, lý do nghỉ...

Nếu bạn muốn nghỉ không hưởng lương, bạn có thể đề cập và thỏa thuận vấn đề này với người sử dụng lao động. Khi hai bên thống nhất được các vấn đề về việc nghỉ không hưởng lương, bạn có thể nghỉ theo sự thỏa thuận đó. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào người sử dụng lao động cũng đồng ý với việc thỏa thuận nghỉ không hưởng lương với người lao động vì lý do ảnh hưởng đến công việc, ảnh hưởng đến công ty nên bạn có thể xem xét hình thức nghỉ việc khác để phù hợp với tình hình thực tế và hoàn cảnh của bản thân.

Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về lĩnh vực lao động, bạn có thể liên hệ với chúng tôi thông qua hình thức gửi Email tư vấn hoặc liên hệ qua tổng đài 1900.6169 để được hỗ trợ tư vấn.

2. Tư vấn về nghỉ không hưởng lương để chữa bệnh

Câu hỏi: Tôi có một việc xin được tư vấn về nghỉ không hưởng lương để khám chữa bệnh như sau: Năm nay tôi 44 tuổi, công nhân viên chức đóng bảo hiểm liên tục 23 năm, cuối năm ngoái tôi có việc gia đình nên xin nghỉ không hưởng lương 4 tháng, đến nay đã hết thời hạn nghỉ nhưng tôi lại bị viêm đa khớp, trong thời gian này tôi chưa thể về tiếp tục công việc được. 

Vì tôi công tác ở CB mà hiện tại tôi đang trong Tp HCM nên tôi gửi đơn xin nghỉ tiếp 3 tháng không hưởng lương nữa (Tự nguyện nộp bảo hiểm), cùng sổ khám chẩn bệnh và điều trị ngoại trú nhưng thủ trưởng đơn vị không cho tôi nghỉ với lý do cán bộ công nhân viên không được phép nghỉ không lương quá 6 tháng. Vậy tôi xin được tư vấn:

1. Tôi đã xin nghỉ không hưởng lương 4  tháng nay muốn xin nghỉ không lương 3 tháng nữa có sai không?

2. Thủ trưởng cơ quan tôi trả lời công nhân viên chức không được phép nghỉ không lương 6 tháng có đúng luật lao động không?

3. Nếu không được tiếp tục nghỉ không hưởng lương mà hiện nay tôi chưa thể về để tiếp tục công việc được, tôi có phải xin nghỉ hẳn công tác không?

Tôi có một số vấn đề như vậy xin được tư vấn cụ thể để giải đáp những thắc mắc của tôi, để tôi tìm được hướng giải quyết tốt nhất. Mong sớm được hồi âm. Tôi xin trân thành cảm ơn!

 Tư vấn trường hợp gia hạn nghỉ không hưởng lương để chữa bệnh?

>> Tư vấn thắc mắc về Chế độ nghỉ không hưởng lương, gọi: 1900.6169

Trả lời : Chào chị ! câu hỏi của chị, chúng tôi trả lời như sau:

Điều 13 Luật Cán bộ công chức quy định : Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động…

Dẫn chiếu đến quy định tại Điều 116 của Luật Lao động 2012 về nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương như sau :

“1. Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây:

a) Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

b) Con kết hôn: nghỉ 01 ngày;

c) Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

2. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.”

Theo đó, pháp luật không điều chỉnh cụ thể về thời gian nghỉ không hưởng lương, thời gian nghỉ không hưởng lương (ngoài khản 2 Điều 116 BLLĐ 2012) thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Nếu nghỉ ốm đau theo quy định của luật Bảo hiểm xã hội thì:

Điều 23. Thời gian hưởng chế độ ốm đau

1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:

a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;

b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.

2. Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

a) Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

b) Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.

3. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật này tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân. 

Từ những quy định của pháp luật, có thể đối chiếu vào trường hợp trên để giải đáp những thắc mắc của chị.

Thứ nhất, chị đã xin nghỉ không hưởng lương 4  tháng nay muốn xin nghỉ không lương 3 tháng nữa là không sai (vấn đề này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của người lao động và người sử dụng lao động).

Thứ hai, Bộ luật Lao động hiện hành không quy định về thời gian tối đa nghỉ không hưởng  lương của công nhân viên chức nên ý kiến trả lời của thủ trưởng cơ quan bạn là không đúng với quy định của pháp luật.

Thứ ba, trường hợp của chị nếu do ốm đau thì có thể nghỉ hưởng chế độ ốm đau theo Luật BHXH. Chị đối chiếu điều kiện thực tế của mình về thời gian đóng bảo hiểm, điều kiện làm việc,… với quy định tại Điều 23 Luật BHXH để tính thời gian hưởng chế độ bảo hiểm của mình.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí