Ls Phùng Gái

Xác định tài sản chung của vợ chồng và quyền yêu cầu chia tài sản sau ly hôn?

Cho em hỏi về tài sản chung và yêu cầu chia tài sản như sau: Em lấy chồng từ năm 200x. Đến năm 201x chúng em mua nhà, khi mua nhà thì chỉ mình chồng em. Đứng tên trên giấy tờ mua bán mà không có tên em. Khi làm thủ tục vay tiền bên ngân hàng thì em có đứng tên cùng ạ, căn nhà trị giá khoảng 1 tỷ là chung cư. Trong thời gian đặt cọc tiền nhà bố mẹ đẻ em có cho vay khoảng 100tr. Có lại là tiền bên nhà chồng em.

Trong quá trình sửa sang lại nhà em có đóng góp khoảng 20 tr. Và chúng em có 1 xe Sh. Khi mua xe em có góp khoảng 20 tr. Từ khi lấy chồng chủ yếu em ở nhà nuôi con và không đi làm. Mãi đến cuối 2015. Em mới đi làm nhưng chủ yếu là nuôi con chứ không đóng góp cho căn nhà. Em với chồng em đang chuẩn bị ly hôn, chồng em nói theo luật pháp do em không chứng minh được em có đóng góp cho căn nhà.Và thu nhập của em quá ít Hơn nữa nhà là do chồng em chủ yếu trả nợ, mua sắm và đứng tên trên hợp đồng mua bán (chúng em chưa làm sổ đỏ vì nhà đang thế chấp cho ngân hàng khi mua nhà). Nên căn nhà và mọi tài sản em không có quyền đòi chia ạ. Em muốn hỏi như vậy có đúng không ạ, khi ly hôn em có được chia tài sản đó không ạ. Những tài sản đó có phải là tài sản chung không ạ. Em xin chân thành cảm ơn anh / chị ạ?

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về xác định tài sản chung của vợ chồng. Cụ thể:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Như vậy, dựa trên quy định trên và thông tin bạn đưa ra thì tài sản là mảnh đất là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Đồng thời, hai vợ chồng bạn có ký giấy vay nợ với ngân hàng để mua nhà, bạn có tham gia góp tiền và công sức để sửa sang lại nhà. Do đó, tài sản này được xác định là tài sản chung của hai vợ, chồng.

Đồng thời, theo quy định về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2.Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Theo đó, khi bạn ly hôn hoàn toàn có quyền yêu cầu chia tài sản chung. Lý do, chồng bạn đưa ra là chủ yếu chồng bạn trả nợ để nói rằng bạn không được chia là không có căn cứ, bởi như trình bày trên thực tế bạn có tham gia góp (20 triệu) để sửa sang, có ký vay nợ để mua mảnh đất. Tuy nhiên, do tài sản đang bị thế chấp tại ngân hàng nên sẽ không thể tiến hành các thủ tục phân chia. Do đó, để tiến hành phân chia hai vợ chồng sẽ phải thanh toán nợ chung ( nợ bố, mẹ và nợ ngân hàng) để lấy được tài sản đang được thế chấp ra sau đó mới giải quyết được vấn đề chia tài sản chung. Cụ thể, nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ giao dịch vay mượn của vợ chồng:

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

Trên đây là nội dung tư vấn về: Xác định tài sản chung của vợ chồng và quyền yêu cầu chia tài sản sau ly hôn?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình để được giải đáp.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí