Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Về vấn đề xác định tài sản chung và tài sản riêng vợ chồng

    • 03/11/2019
    • Vy Huyền
    • Luật sư tư vấn về vấn đề xác định tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp bất động sản đã đăng ký tên chồng thì vợ có được chia như tài sản chung không?

    Nội dung cần tư vấn:

    Xin chào! văn phòng luật sư Minh Gia.Tôi năm nay 44 tuổi và hiện tại thì tôi đang ly hôn nhưng trong quá trình ly hôn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình chia tài sản. Rất mong được sự tư vấn từ phía văn phòng luật. Sau đây tôi xin trình bày vấn đề:

    Tôi có chồng năm 17 tuổi năm 1987, lúc cưới không có đăng ký giấy kết hôn và sống với nhau có 4 người con (4 con đả đủ 18 tuổi) nhưng đến tháng 01 năm 2013 thì 2 vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẩn nên tôi đã đưa đơn xin ly hôn và chia tài sản trên tòa án huyện. Từ lúc đưa đơn cho đến nay nếu tính tới thời điểm hiện tại đã là hơn 2 năm nhưng chưa xong vì vấn đề chia tài sản. Trong quá trình chung sống chúng tôi có được tài sản gồm:

    1/ Đất nhà ở

    2/ Ruộng

    3/ Đất bàu và có nuôi 1000 con vịt đẻ

    Bên cạnh tài sản chung thì 2 vợ chồng cũng có khoản nợ chung Trong thời gian đưa đơn xin ly hôn thì chồng tôi hăm dọa không cho ở nhà nên tôi đã dọn ra ngoài ở và có làm đơn nộp nhờ sự can thịp của cơ quan công an xã.

    Chồng tôi ngoài tên tộc (A) thì còn có tên thường gọi (B) trong các sổ chồng đứng tên tộc (A) khi lên tòa chồng tôi không nhận là mình có tên thường gọi khác.

    Tôi và chồng có mua đất nhà ở vào năm 1994 của anh trai tôi với giá là 17 chỉ vàng, lúc này có giấy mua bán đất trong giấy mua bán có tên tôi và tên thường gọi của chồng nhưng trong sổ đỏ thì chỉ có chồng tôi đứng tên (lấy tên A). Chồng tôi bây giờ nói ngược lại là tài sản riêng do mình mua và hiện tại mới đây làm giấy là Cha mình cho vàng để mua và có anh em bên chồng xác nhận. Vậy xin hỏi tài sản đất nhà đó sẽ được chia như thế nào?

    Còn lại các tài sản khác thì chồng tôi công nhận là tài sản chung nhưng nói là chồng tôi đóng góp công sức nhiều hơn còn tôi chỉ là nội trợ. Tôi ra ngoài sống trong vòng 2 năm thì không thu lợi từ các nguồn tài sản nào mà chồng tôi làm và thu. Bây giờ chồng tôi làm đơn nộp là trong thời gian tôi ra ngoài chồng tôi đã múc bàu tu sửa lại và thêm nữa là chồng tôi đã bán đi 1000 con vịt để giá 50 ngàn mà vợ chồng tôi đã nuôi để mua vịt khác. Vậy thì tài sản này chia như thế nào?

    Chồng tôi làm đơn lên tòa yêu cầu tòa là không công nhận tôi là vợ vì không có giấy kết hôn, có nhận là có 4 người con chung, có nợ chung có tài sản chung là ao hồ, vịt, còn chồng tôi có tài sản riêng là đất nhà. Trong quá trình sống chồng tôi làm còn tôi chỉ nội trợ nên yêu cầu tòa chia tài sản cho chồng tôi nhiều hơn. bên phía chồng tôi có nhờ tới sự giúp đỡ của luật sư.

    Còn về bên tòa án thì tôi đã nộp tiền đo đạt để chia tài sản 2 lần. Tôi không am hiểu về luật rõ ràng nên rất mong được sự tư vấn của văn phòng.Mong được sự hồi đáp sớm từ văn phòng luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

    Vấn đề của bạn xoay quanh chế độ tài sản chung vợ chồng. Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

    Như vậy, có thể hiểu tất cả tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, được sử dụng vào mục đích đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng và không có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng thì đó sẽ là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, có thể đưa ra một số nhận định về tình huống của bạn như sau.

    Thứ nhất, về mảnh đất 2 vợ chồng bạn mua năm 1944. Mảnh đất này mặc dù được đứng tên chồng bạn nhưng nó được đưa vào sử dụng trong suốt quá trình hôn nhân nên sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng. Kể cả trong trường hợp bên nhà chồng có giấy tờ thể hiện việc tặng cho riêng nhưng không có bằng chứng về việc sử dụng riêng mảnh đất này thì nó sẽ vẫn được coi là tài sản chung vợ chồng. Và sẽ được chia theo nguyên tắc theo Điều 59 Khoản 2:

    Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

    a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    Thứ hai, về 1000 con vịt. Nếu số vịt này là hai vợ chồng cùng góp tài sản vào để mua thì nó sẽ là tài sản chung vợ chồng, và sẽ được chia theo nguyên tắc như trên.

    Thứ ba, về việc chồng bạn yêu cầu Tòa án không công nhận bạn là vợ của người này là hợp pháp. Khi đó, mọi quan hệ về tài sản sẽ được xem xét dưới góc độ tài sản chung, kể cả khoản nợ chung. Cụ thể, Điều 16 quy định về giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

    1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

    Như vậy việc bạn ở nhà nội trợ cũng không thể là căn cứ cho việc chồng bạn yêu cầu đòi một mức chia tài sản cao hơn.

    Thứ tư, việc đo đạc đất đẻ chia tài sản là không bắt buộc, trừ trường hợp đương sự có yêu cầu đo đạc. Nếu không sẽ căn cứ trên số liệu ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy bạn có thể yêu cầu tòa án căn cứ trên giấy tờ để tiến hành việc chia tài sản là đất đai.

    Hotline: 1900.6169