Đàm Minh Diệu

Vấn đề ngoại tình theo Bộ Luật hình sự được quy định như thế nào?

Chồng bạn có thể bị xử lý như thế nào khi ngoại tình theo Bộ luật hình sự Việt Nam? Dưới đây Luật sư se giải đáp thắc mắc cho khách hàng về vấn đề này.

Nội dung tư vấn: Tôi và chồng cùng sinh năm 1990.kết hôn năm 2015. Đã có 1 bé gái dc 20 tháng. Trong lúc tôi sinh con thì có quen biết cô gái sinh năm 1992 có chồng và 1con gái 4tuoi. Lúc cô này tổ chức tiệc ăn mừng vì dược chồng bảo lãnh sang Mỹ thì chồng tôi bắt đầu kiếm chuyện với tôi, ly thân và ly dị. Tôi biết 2ng thường xuyên nhắn tin qua facebook,gọi video facebook, họ đăng tải những tấm hình thân mật, nói chuyện trơ trẽn nhầm chọc tức tôi. Tôi nói chồng có quan hệ bất chính với cô ta thì chồng bảo chỉ là bạn và đòi thưa tôi lý do phỉ bán mất danh dự chồng vì tôi không có bằng chứng chứng minh ngoại tình. Cô ta thì mới qua Mỹ dc khoảng 2 thang. Nếu chồng tôi thưa tôi vì tội du khống thì cô ta có bị triệu tập về đối chấp hay không và bị xử phạt gì khi cố tình phá hạnh phúc gia đình người khác. Tôi bị xử phạt như thế nào. Và chồng tôi nhiều lần đe doạ sẽ giết tôi nếu tôi cản trở chồng được qua Mỹ. Mong luật sư giải đáp giúp 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về việc triệu tập người làm chứng đang ở nước ngoài.

Nếu chồng bạn kiện bạn vì tội vu khống, thì cô gái đó có thể bị triệu tập với vai trò là người làm chứng. Tuy nhiên, do cô gái đó đang sinh sống nước ngoài nên có thể xác định đây là vụ việc có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 185 Bộ luật hình sự 2015 (BLHS).

Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật tương trợ tư pháp”.

Thứ hai, về vấn đề xác định tội của cô gái sinh năm 1992.

Căn cứ vào quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 về “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”, những hậu quả mà hành vi ngoại tình gây ra được quy định cụ thể. Theo đó, không phải người nào ngoại tình cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 182, cụ thể:

“Điều 182: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.

Do đó, trong trường hợp này, chồng bạn và cô gái đó chưa có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với nhau và cũng chưa có hành vi gây thiệt hại cho gia đình bạn theo như quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự nêu trên. Do vậy, cô gái đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Đối với trường hợp người có hành vi ngoại tình nhưng hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo quy định của Điều 182 BLHS 2015 thì cô gái đó có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số  110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 như sau:

““Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1.Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Thứ ba, về tội vu khống.

Nếu chồng bạn kiện bạn về tội vu khống theo Điều 156 BLHS.

 Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

 …

Có thể thấy theo khoản 1 điểm a Điều này, việc bạn nói chồng bạn có quan hệ bất chính với người khác có thể là đúng sự thật nên chưa thể cấu thành tội vu khống. Do đó, chồng bạn chỉ có thể kiện bạn vì tội làm nhục người khác tại khoản 1 Điều 155 BLHS 2015, sửa đổi 2017.

“Điều 155. Tội làm nhục người khác

1.Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...

Thứ tư, về việc đe doạ giết người.

Nếu chồng bạn nhiều lần đe dọa giết bạn thì chồng bạn có thể chịu trách nhiệm về tội đe dọa giết người theo khoản 1 Điều 133 BLHS 2015 sửa đổi 2017 như sau:

Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.


CV tư vấn: Nguyễn Thị Nhung- Luật Minh Gia

Gọi ngay