Nông Hồng Nhung

Tư vấn việc dành quyền nuôi con và phân chia tài sản chung khi chồng đi XKLĐ.

Đối với nguồn thu nhập do một trong hai bên vợ chồng đi xuất khẩu lao động có phải là tài sản chung vợ chồng hay không? Khi ly hôn, tài sản này sẽ được phân chia như thế nào? Nếu người chồng ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì vợ có được xem xét nuôi cả hai con không?

1. Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo đó, các tranh chấp phát sinh khi ly hôn như phân chia tài sản, giành quyền nuôi con sau... diễn ra ngày càng nhiều. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên trong quan hệ hôn nhân cần phải tìm hiểu kỹ các quy định của pháp luật hoặc tham khảo ý kiến tư vấn của luật sư riêng. Trong trường hợp không có thời gian tìm hiểu hoặc không có luật sư riêng, bạn hãy liên hệ Luật Minh Gia để luật sư của chúng tôi giải đáp và đưa ra cho bạn hướng giải quyết phù hợp.

Để được hỗ trợ, tư vấn về pháp luật hôn nhân và gia đình bạn hãy gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc Gọi: 1900.6169 để được hướng dẫn tư vấn.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để có thêm kiến thức để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Tư vấn việc dành quyền nuôi con và phân chia tài sản chung khi chồng đi XKLĐ

Câu hỏi: Kính gửi văn phòng luật Minh Gia! Em muốn hỏi trước khi kết hôn chồng em có đi lao động Hàn Quốc được 4 năm. Sau đó chồng em xin về nước 1 tháng để kết hôn. Trong 1 tháng đó vợ chồng em không có con, 1 năm sau gia đình chồng em có tạo điều kiện cho em sang Hàn Quốc du lịch để sinh em bé. Và trong lần sang du lịch đó thì em đã có 1 bé. 1 năm sau em tự đi du lịch sang thăm chồng. Và em lại có thêm 1 bé nữa.

Trong suốt thời gian đó em vẫn sống chung với bố mẹ chồng. Tiền em đi làm 1 mình em nuôi con. Còn tiền của chồng em gửi bố mẹ chồng cầm. Khi em sinh bé thứ 2 thì có sích mích với em dâu. Bố mẹ chồng em đuổi 3 mẹ con em về ngoại. Từ đó 1 mình em nuôi con, chồng em cũng không gọi điện hỏi thăm gì. Bây giờ chồng em vẫn bên đó và em muốn ly hôn. Bé lớn nhà em đã 40 tháng, bé thứ 2 18 tháng.

Vậy khi ly hôn em có được quyền nuôi cả 2 đứa hay không? Vì 1 mình em chăm lo cho chúng nó. Và khi ly hôn em có được chia tài sản khi chồng em đi lao động Hàn Quốc. Mong văn phòng tư vấn cho em. Em cảm ơn!

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, hiện nay bạn muốn đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con. Về nguyên tắc, Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Khi giải quyết ly hôn, các vấn đề về người trực tiếp nuôi con và việc phân chia tài sản chung được giải quyết như sau:

Thứ nhất, liên quan đến vấn đề bạn muốn giành quyền nuôi cả hai con, bạn có thể thỏa thuận với chồng của bạn về người trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp không thỏa thuận được, Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ và quyền lợi về mọi mặt của con theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia định 2014:

“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Hiện nay, pháp luật không quy định các tiêu chí để đánh giá quyền lợi về mọi mặt của con. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử, Tòa án thường dựa vào các tiêu chí sau đây:

+ Thu nhập hàng tháng (có đảm bảo để nuôi cháu hay không?)

+ Chỗ ở ổn định (Có đảm bảo để cháu có chỗ ở lâu dài hay không?)

+ Môi trường sống (Có đảm bảo cho sự phát triển cả về tinh thần lẫn thể chất của cháu hay không?)

+ Thời gian làm việc (Bạn có thời gian để chăm sóc cháu hay không?)

+ Hành vi của cha mẹ (Có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và sự phát triển của trẻ)

Nếu thông qua các tiêu chí sau có thể xác định được bạn có điều kiện tốt hơn chồng bạn về mọi mặt để nuôi con phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần thì Tòa án có thể quyết định bạn là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Thứ hai, liên quan đến vấn đề phân chia tài sản sau khi ly hôn:

Trong quá trình chung sống, chồng chị có khoản thu nhập do lao động tại Hàn Quốc. Vì vậy, về nguyên tắc, thu nhập của hai vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ, chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Trừ trường hợp vợ chồng chị áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận và trong văn bản thỏa thuận đó xác định thu nhập của mỗi bên là tài sản riêng):

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Đối với tài sản chung của hai vợ chồng thì khi ly hôn, tài sản đó được phân chia theo nguyên tắc được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

…”

Như vậy, để phân chia tài sản chung, hai vợ chồng chị có thể thỏa thuận yêu cầu phân chia. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ chia đôi nhưng tính đến các yếu tố như công sức đóng góp của mỗi bên vợ chồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí