Trần Tuấn Hùng

Tư vấn về việc chia tài sản và quyền nuôi con sau ly hôn

Chào luật sư! em muốn nhờ luật sư tư vấn cho em một số vấn đề về chia tài sản và quyền nuôi con như sau: Vợ chồng em lấy nhau ngày 06/02/201x (Âm lịch). Chúng em có hai con: Con gái - sinh năm 200x. Con trai - sinh năm 200x công việc của 2 vợ chồng là làm tại nhà cũng tạm ổn nhưng bọn em không hợp nhau hay cãi nhau. Chồng em hơn em 13 tuổi.

Mọi công việc to nhỏ trong gia đình anh không quyết đoán cái gì cũng phải dựa vào vợ. Anh vô tâm không biết con mình học lớp mấy, thầy cô nào chủ nhiệm. Kể cả ngày giỗ bố, giỗ mẹ đẻ ra anh cũng không nhớ. Tính thì bảo thủ, gia trưởng, ngồi nói chuyện thì hay nhưng làm việc thì không hiệu quả. Nói nhiều hơn làm. Bây giờ cuộc sống vợ chồng em rất nhàm chán. Sống với nhau không tình cảm, em thì muốn sống vì con nhưng chồng em muốn ly hôn vì anh không sống với người không yêu mình. Anh ta chỉ muốn sống cho bản thân mình chứ không vì ai khác. Anh ta bảo em có bồ. Nhưng không có bằng chứng. Giờ anh ta muốn ly hôn với em. Về tài sản chung bọn em có: 1 ngôi nhà 5 tầng xây trên đất của bố mẹ anh để lại, 1 miếng đất 50m mua năm 2012, và rất nhiều tài sản khác. Vậy em xin hỏi luật sư: Giờ ly hôn em có phải mất nhà đó không? Công việc em làm tại nhà mà em là lao động chính. Em đã lấy chồng được hơn 13 năm rồi, em có quyền gì với miếng đất của bố mẹ anh ta để lại không? 2 đứa con của em đều muốn ở với mẹ, liệu em có được nuôi tất 2 đứa không ạ? Nhờ luật sư tư vấn giúp em với. Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia chúng tôi. Về trường hợp của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Về vấn đề chia tài sản khi ly hôn:


Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:
 

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
 
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
 
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
 
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Vì thông tin bạn không nói rõ là mảnh đất xây nhà do bố mẹ chồng bạn để lại cho riêng chồng bạn hay cho cả hai vợ chồng nên chúng tôi mặc định bố mẹ chồng bạn tặng cho mảnh đất cho cả hai vợ chồng.

Như vậy, mảnh đất này sẽ là tài sản chung của cả hai vợ chồng. Còn mảnh đất 50m cũng như các tài sản khác mà được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bạn thì đều là tài sản chung của cả hai vợ chồng.
 
Trong trường hợp của bạn, nếu như trước khi kết hôn hai vợ chồng không thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản theo thuận, có lập thành văn bản được công chứng hoặc chứng thực thì khi ly hôn tài sản sẽ được chia theo pháp luật.

Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:
 

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
 
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
 
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
 
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
 
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
 
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
 
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
 
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
 
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
 
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Như vậy, việc chia tài sản khi ly hôn trước tiên sẽ do hai vợ chồng bạn tự thỏa thuận với nhau, nếu không thỏa thuận được thì về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố quy định trên. Ngoài ra, pháp luật cũng ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên.

Bạn đã lấy chồng 13 năm. Do đó, nếu như bạn chứng minh được trong thời kỳ hôn nhân bạn có đóng góp công sức của mình vào việc xây dựng, tu sửa nhà bằng chính tiền của bạn thì bạn có thể yêu cầu tòa án xem xét để được hưởng giá trị khi chia tài sản.
 
Về vấn đề nuôi con khi ly hôn:
 
Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, giáo dục, nuôi dưỡng con khi thực hiện thủ tục ly hôn như sau:
 
“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
 
Như vậy, theo quy định này, khi ly hôn bạn không có toàn quyền quyết định việc nuôi dạy con mà phải có sự thỏa thuận với chồng về việc ai là người trực tiếp nuôi con, nếu không tự thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào các yếu tố về quyền lợi của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Trừ trường hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
 
Trường hợp của bạn, con bạn 1 cháu sinh năm 2002, 1 cháu sinh năm 2008. Cả hai cháu đều đã đủ 07 tuổi trở lên. Mặt khác, theo thông tin bạn cung cấp thì hai cháu có nguyện vọng muốn sống với bạn. Như vậy, bạn hoàn toàn co thể được nhận nuôi cả hai cháu. Chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tuy nhiên, sau khi ly hôn hai vợ chồng bạn sẽ chấm dứt hoàn toàn quan hệ về mặt pháp lý. Do đó, bạn nên cân nhắc kỹ, nếu như hai vợ chồng đã hết tình cảm, không thể chung sống thì sẽ tiến hành ly hôn. Ly hôn chỉ là giải pháp cuối cùng nếu như không còn sự lựa chọn nào khác.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Việc chia tài sản và quyền nuôi con sau ly hôn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân gia đình để được giải đáp.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí