Nguyễn Đức Minh Hiếu

Tư vấn một số tranh chấp xảy ra trong thời kỳ hôn nhân

Khi kết hôn tôi được bố mẹ đẻ cho 1 cây vàng. Gồm: 1 lắc tay 5 chỉ, 1 vòng cổ 5 chỉ, 1 nhẫn 2 chỉ. Tất cả tài sản của tôi đã mang gửi bố mẹ chồng. Sau đó có việc nên tôi đã lấy ra 1 chiếc nhẫn 2 chỉ để sử dụng. Còn lại 1 cây vàng vẫn gửi bố mẹ chồng. Sau khi ly hôn, bố mẹ chồng không muốn trao trả lại cho tôi.

Nội dung yêu cầu tư vấn: Xin chào luật sư ! Tôi cần tư vấn về một số vấn đề như sau:

Vấn đề thứ  nhất:  Khi kết hôn tôi được bố mẹ đẻ cho 1 cây vàng. Gồm: 1 lắc tay 5 chỉ, 1 vòng cổ 5 chỉ, 1 nhẫn 2 chỉ. Tất cả tài sản của tôi đã mang gửi bố mẹ chồng.  Sau đó có việc nên tôi đã lấy ra 1 chiếc nhẫn 2 chỉ để sử dụng.  Còn lại 1 cây vàng vẫn gửi bố mẹ chồng.  Sau khi ly hôn, bố mẹ chồng không muốn trao trả lại cho tôi. Như vậy thì có cách nào để lấy lại không ạ?

Vấn đề thứ hai là: Sau khi kết hôn bố mẹ chồng có mua cho tôi 1 chiếc xe máy vision trị giá 26 triệu 500 nghìn đồng  mang tên tôi. Nhưng chồng tôi đã mang đi cầm cố 10 triệu đồng với lãi suât 1triệu 200 nghìn đồng 1 tháng. Sau đó có trục trặc nên vợ chồng tôi ly hôn. Tôi đã lấy lại chiếc xe, hoàn trả đầy đủ tiền lãi và gốc. Vậy cho tôi hỏi là chiếc xe đấy mang tên tôi thì có được coi là tài sản chung không?

 Vấn đề thứ ba: Sau khi kết hôn chồng tôi có mượn chiếc xe máy của bố mẹ đẻ tôi, sau đó mang đi cắm 15 triệu. Gia đình bố mẹ đẻ tôi đã đi lấy lại và hoàn trả số tiền đó. Như vậy thì có bị coi là lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản không? Xin tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn từng vấn đề như sau:

Vấn đề thứ nhất: Khi kết hôn bạn được bố mẹ đẻ cho 1 cây vàng. Cây vàng này hoàn toàn là tài sản riêng của cá nhân bạn. Việc bạn đem gửi bố mẹ chồng chỉ là hình thức gửi giữ tài sản.

Ðiều 559 Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng gửi giữ tài sản: “Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, còn bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công.

Hợp đồng dân sự có thể lập bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi, khi pháp luật không quy định cụ thể thì phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. Việc gửi giữ tài sản của bạn có thể được giao kết bằng lời nói nhưng pháp luật công nhận sự thỏa thuận này. Bạn cần có bằng chứng chứng minh được việc gửi giữ vàng của mình và bố mẹ chồng  thì bố mẹ chồng bạn phải có nghĩa vụ trao trả lại số vàng đó cho bạn.

Trường hợp bố mẹ chồng không trao trả lại tài sản cho bạn thì bạn có thể tiến hành khởi kiện lên Toà án nhân dân huyện về tranh chấp hợp đồng dân sự để có thể bảo vệ được quyền lợi cho mình.

Vấn đề thứ hai: Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

"1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Như vậy, tuy chiếc xe máy đứng tên một mình bạn nhưng nếu có cơ sở chứng minh được giữa chồng bạn và bạn có thỏa thuận để bạn đứng tên thì tài sản này vẫn được coi là tài sản chung vợ chồng. Để xác định đây là tài sản riêng thì bạn phải chứng minh được chiếc xe máy này bạn được bố mẹ chồng tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, trong trường hợp tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nếu không chứng minh được là tài sản riêng thì sẽ được coi là tài sản chung vợ chồng. 

Vấn đề thứ ba: Theo Điều 140 Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

…”

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì hành vi của chồng bạn có dầu hiệu để cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo đó, nếu muốn chồng bạn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật thì bố mẹ bạn có thể gửi đơn tố giác tội phạm về hành vi này cho Cơ quan điều tra cấp huyện.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí