Tuấn Luật sư

Trường hợp cư trú nhiều nơi thì xin xác nhận tình trạng hôn nhân thế nào?

Luật sư cho hỏi về việc sống và cư trú ở nhiều nơi khác nhau thì xác nhận tình trạng hôn nhân thế nào, cụ thể: Tôi quê gốc ở BN, quá trình công tác tôi phải luân chuyển nhiều nơi. Hiện nay tôi đã có hộ khẩu tại thành phố HB, Do rời BN đã lâu mà không khai báo tạm vắng nên công an địa phương đã xóa hộ khẩu từ năm 1995, tại các địa phương khác tôi chỉ có đăng kí tạm trú.

 Giờ đây, tôi kết hôn với người bạn gái ở Thành phố Hải Dương. Khi đến UBND địa phương nơi vợ tôi thường trú để đăng kí kết hôn thì họ bắt tôi phải xác nhận “độc thân” từ lúc đủ tuổi kết hôn đến nay (từ năm 2003 đến năm 2014). Xin cho tôi biết pháp luật quy định về vấn đề này thế nào?

>> Giải đáp quy định về xác nhận tình trạng hôn nhân, liên hệ: 1900.6169

Trả lời: Căn cứ theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch như sau:

“2. Người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản chính Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch; đăng ký khai tử phải nộp bản chính Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 của Luật Hộ tịch và tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định này; đăng ký kết hôn phải nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Mục 3 Chương III của Nghị định này.”

Theo đó thì bạn muốn đăng ký kết hôn thì phải xuất trình giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Vì vậy, yêu cầu của UBND cấp xã "xác nhận độc thân từ lúc đủ tuổi kết hôn đến nay" là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như sau:

 “1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.”

Trường hợp trước khi kết hôn bạn đã có nhiều nơi cư trú khác nhau mà UBND cấp xã nơi bạn hiện nay đang cư trú không xác định rõ về tình trạng hôn nhân của bạn thì được giải quyết theo khoản 4 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP: 

“4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.” 

Như vậy, bạn có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Nếu không chứng minh được thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị ủy ban nhân dân nơi anh đã đăng ký tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của bạn. 

Thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

“1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.”

>> Tư vấn thắc mắc về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân, gọi: 1900.6169

- Thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đối với người có nhiều nơi cư trú thế nào?

Câu hỏi: Luật sư cho tôi hỏi: Tháng 7/2015 tôi có ra Phường xin được cấp "giấy xác định tình trạng hôn nhân" cho Bác tôi với mục đích nhập hộ khẩu cho cháu. Vì Bác tôi đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau nên Phường đề nghị Bác tôi viết giấy cam đoan theo "Điểm b, khoản 2 Mục 2 Thông tư số 01/2008/TT-BTP" .

Nhưng đến tháng 3/2016 tôi lại ra Phường xin "giấy xác định tình trạng hôn nhân" cho Bác tôi với mục đích sang tên Quyền sử dụng đất. Lúc này Phường bảo theo luật mới có hiệu lực từ 02/01/2016 thì không thể viết giấy cam đoan được nữa, mà phải về các nơi mà Bác tôi đã cư trú sau năm 18 tuổi để xin xác nhận tình trạng hôn nhân(Điều này thì không thể làm được đối với Bác tôi, vì Bác tôi không đủ sức khỏe và trước năm 1975 Bác tôi là TNXP trong quân đội không có hộ khẩu ở đâu cả). Xin luật sư cho tôi hỏi? Phường trả lời tôi như thế có đúng không? Và bây giờ Bác tôi phải làm thế nào để được cấp "giấy xác nhận tình trạng hôn nhân"?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến công ty chúng tôi, trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, tháng 7, năm 2015 bác bạn xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp của bác bạn sẽ áp dụng quy định tại điểm d, khoản 2 phần II Thông tư số 01/2008/TT-BTP  hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005.

"d) Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan."

Đến tháng 3/2016 bác bạn tiếp tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để chuyển nhượng đất. Thời điểm này sẽ áp dụng quy định tại khoản 4 ĐIều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

"4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương."

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trường hợp này bác bạn không phải viết giấy cam đoan nhưng bác bạn phải chứng minh được tình trạng hôn nhân của mình. Nếu bác bạn không tự xác minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của bác bạn.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Trường hợp cư trú nhiều nơi thì xin xác nhận tình trạng hôn nhân thế nào?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến để được giải đáp. 

Trân trọng.

Gọi ngay