Vũ Thanh Thủy

Tranh chấp quyền nuôi con khi không đăng ký kết hôn

Chào luật sư. Tôi tên là A năm nay tôi 40 tuổi, hộ khẩu thường trú của tôi tại H. Vào năm 2009 tôi có quen và sống chung với chị B có hộ khẩu thường trú tại G đến bây giờ. Chúng tôi có với nhau 2 đứa con, 1 gái 1 trai. Cháu gái năm đó làm giấy dễ nên mang họ của tôi, còn cháu trai làm khó nên phải làm theo họ mẹ.

Do 1 số lý do khách quan nên tôi và chị B chưa đăng ký kết hôn, nay tôi muốn nhờ luật sư tư vấn cho tôi đơn phương ly hôn phải làm như thế nào.  Chị B đã bỏ bố con tôi đi và không liên lạc được nữa, để ổn định tinh thần và cuộc sống nên tôi muốn đơn phương ly hôn và có quyền nuôi con chính thức, giữa 2 chúng tôi không có tài sản chung, nên sẽ không có tranh chấp về tài sản, tôi có công việc ổn định và nuôi con tốt hơn, chị B từ trước tới nay không có công việc ổn định, chỉ ở nhà nội trợ. Nay chị B đã bỏ cả 2 con cho tôi và bỏ đi mất không liên lạc được. Hiện tôi đang tạm trú dài hạn tại C. Tôi đã có kt3 ở đây. Vậy xin luật sư tư vấn giúp tôi làm như nào ạ, tôi xin trân thành cảm ơn. Mong tin hồi âm của luật sư.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định việc đăng ký kết hôn như sau:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.”

Trường hợp hai người sống chung với nhau, không đăng ký kết hôn thì được xác định thuộc trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng. Căn cứ theo Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn,cụ thể:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.”

Theo quy định trên, bạn và người còn lại đủ điều kiện để kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn mà chỉ chung sống với nhau như vợ chồng thì giữa hai người không phát sinh nghĩa vụ vợ, chồng. Để chấm dứt việc chung sống trên thì bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa hai người theo khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Ngoài ra, tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn, theo đó:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận”

Như vậy, việc ai là người trực tiếp nuôi con do các bên tự thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết, khi đó Tòa án sẽ xem xét vào điều kiện ( khả năng kinh tế, nhân thân,…) của một trong hai bên để xác định ai là người đáp ứng được tốt nhất quyền và lợi ích của các cháu, ví dụ bạn có thể cung cấp bằng chứng chứng minh về khả năng kinh tế của bạn tốt hơn B, ngoài ra, chị B đã tự ý bỏ đi không quan tâm đến các cháu,…

Đồng thời, bạn cần phải cung cấp rõ về độ tuổi của hai con để chúng tôi có thể tư vấn cụ thể hơn cho bạn, theo đó, nếu con từ 7 tuổi trở lên thì Tòa án có xem xét đến nguyện vọng của con, ngược lại, con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ nuôi (trừ trường hợp mẹ không có đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con).

Về thủ tục ly hôn đơn phương bạn có thể tham khảo bài viết sau của chúng tôi : “Thủ tục đơn phương ly hôn”. Lưu ý, khi ly hôn đơn phương, bạn phải gửi đơn đên Tòa án nơi mà chị B đang cư trú. Trường hợp chị B bỏ đi mà bạn không liên lạc được và không biết nơi cư trú hiện của người ày thì có thể thực hiện nộp đơn theo Điều 40 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015:

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;”

Do đó, bạn có thể nộp đơn xin ly hôn ở tòa án nhân dân quận/huyện chị B cư trú, làm việc cuối cùng. Tuy nhiên, bạn phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nơi cư trú cuối cùng của chị B cho tòa án nơi bạn nộp đơn.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

P.luật sư tư vấn về hôn nhân gia đình – Công ty Luật Minh Gia.

Gọi ngay