1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Hôn nhân
  • Trang sức cưới sau khi ly hôn có phải trả lại?

    • 20/04/2021
    • Đinh Ngọc Huyền
    • Trong ngày cưới, việc cha mẹ, họ hàng tặng vàng, trang sức có giá trị khác cho cô dâu, chú rể là phong tục ở nhiều nơi. Vậy tài sản là vàng, trang sức được tặng cho trong lễ cưới thuộc tài sản chung hay riêng? Khi ly hôn, việc phân chia tài sản được quy định như thế nào? Nếu gặp phải tình huống này, bạn có thể liên hệ Luật Minh Gia để được các Luật sư tư vấn, bảo vệ quyền lợi của mình.

    Câu hỏi tư vấn:Tôi và chồng kết hôn và đăng kí kết hôn năm 2018. Sống chung được hơn 6 tháng do chúng tôi không cùng tiếng nói chung không còn hạnh phúc hay cãi nhau làm phiền lòng hai bên gia đình.Cuối năm 2018 tôi về nhà mình và ly thân đến nay. Hai người và gia đình hai bên không liên lạc từ đó, đến ngày 04/3/2021, gia đình tôi có nhận được thông báo của tòa án nhân dân huyện thoại sơn nơi tôi cư trú, về việc chồng tôi yêu cầu ly hôn.

    Cho tôi hỏi về vàng cưới được cho gồm dây chuyền, lắc, mẹ chồng giữ. Đó là trang sức cá nhân cho tôi, khi ly hôn tôi có được nhận lại không? Nếu không được nhận lại thì tôi phải làm như nào?  Ngoài ra, không có tài sản nào khác chung ạ và chưa có con.Vậy cho tôi hỏi luật sư khi ra tòa ly hôn tôi cần nộp những giấy tờ nào và làm những thủ tục gì, và trang sức cưới sẽ được xử lý  thế nào ạ?

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Căn cứ vào Khoản 1, Điều 43 Luật HN và GĐ 2014 quy định cụ thể như sau:

    "Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

    1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”.

    Trước đây, tại Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 về hướng dẫn áp d ụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình do Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao có quy định: "Đồ trang sức mà người vợ hoặc người chồng được cha mẹ vợ hoặc chồng tặng cho riêng trong ngày cưới là tài sản riêng, nhưng nếu những thứ đó được cho chung cả hai người với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn thì coi là tài sản chung".

    Tuy nhiên, Nghị quyết này hiện nay đã hết hiệu lực. Tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình không có quy định cụ thể đối với tài sản là vàng, tiền mừng cưới được cho khi tổ chức lễ cưới là tài sản chung hay tài sản riêng. Do vậy, để xác định đây là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng cần dựa trên tính chất của từng vụ việc. 

    Cụ thể: Cần xác định khi được tặng cho vàng, người tặng cho có thể hiện ý chí tặng cho chung vợ chồng hay tặng cho riêng. Việc tặng cho tiền, vàng khi tổ chức lễ cưới cũng cần xem xét đến phong tục, tập quán của địa phương. Đồng thời, cần xem xét vàng được tặng cho là vàng miếng chưa được chế tác thành đồ trang sức hay vàng dưới dạng đồ trang sức.

    + Trường hợp khi tặng cho tiền vàng, người tặng cho có thể hiện ró ý chí tặng cho chung hay riêng vợ chồng thì căn cứ vào ý chí của người tặng cho để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng.

    + Trường hợp của chị, khi tặng cho tiền vàng, nếu người tặng cho không nói rõ tặng cho chung hay tặng cho riêng, tuy nhiên, vàng được tặng cho là dây chuyền, lắc, vòng tay thì đây là đồ trang sức của cá nhân, không mang tính chất là tài sản tặng cho chung hai vợ chồng để tạo lập tài sản. Trong trường hợp này, vàng cưới được xác định là tài sản riêng của chị. Khi ly hôn, chị có quyền yêu cầu mẹ chồng trả lại các tài sản riêng đó cho mình. 

    Tuy nhiên, do vàng, trang sức là các tài sản không phải đăng ký sở hữu, hiện nay vàng do mẹ chồng giữ. Do vậy bạn sẽ có nghĩa vụ chứng minh về việc có tài sản đó để yêu cầu mẹ chồng hoàn trả lại.

Bài viết nổi bật

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ miễn phí

 1900 6169