1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Hôn nhân
  • Thủ tục hòa giải khi giải quyết ly hôn quy định thế nào?

    • 23/06/2020
    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Luật sư cho hỏi thắc mắc một số vấn đề về hòa giải trong thủ tục ly hôn như sau: Trước khi Tòa xử ly hôn có cần hòa giải không? Người vi phạm chế độ một vợ một chồng sẽ bị xử lý như thế nào? Xin cho biết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn có nhà ở thuộc quyền sở hữu riêng của vợ? Xin cảm ơn luật sư.

    >> Luật sư tư vấn quy định về ly hôn và thủ tục liên quan, gọi: 1900.6169

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, đối với trường hợp trên chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất: Trước khi Tòa xử ly hôn có cần hòa giải hay không?

    Theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014“Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.”  

    Tại Khoản 1 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải như sau:

    “1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.”

    Như vậy, đối với các vụ án ly hôn không thuộc trường hợp quy định tại Điều 206 và Điều 207 BLTTDS năm 2015 thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án sẽ tiến hành hòa giải.

    * Thứ hai: Người vi phạm chế độ một vợ một chồng sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

    - Trách nhiệm hành chính: Theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP thì:

    " Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

    b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác"

    - Trách nhiệm hình sự: Người vi phạm chế độ một vợ một chồng sẽ bị khởi tố theo quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 nếu:

    “1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

    b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

    b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”

    Theo đó, tùy vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, người vi phạm chế độ hôn nhân gia đình có thể bị chịu trách nhiệm về hành chính hay hình sự.      

    Thứ ba: Quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn có nhà ở thuộc quyền sở hữu riêng của vợ

    “1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.”

    Đồng thời, khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng…”

    Như vậy, căn cứ vào quy định trên thì nhà ở vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của vợ. Tuy nhiên, nếu căn nhà có phát sinh lợi tức ( ví dụ như nhà gia đình ở đồng thời có cho thuê) thì lợi tức phát sinh từ căn nhà là tài sản chung. 

    >> Luật sư hướng dẫn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900.6169

    - Thẩm quyền giải quyết ly hôn và nuôi con sau khi ly hôn quy định thế nào?

    Câu hỏi: Chào luật sư, Tôi năm nay 26 tuổi đã có gia đình và bé trai được 2 tháng tuổi. Vì nhiều lý do nên vợ chồng tôi không thể chung sống với nhau nữa và hiện tại đang ly thân. Tôi về quê sinh con và nghỉ thai sản còn chồng đang làm ở sài gòn. Vì đã quyết định lý hôn nên tôi không vào lại thành phố để làm cùng chồng nữa mà ở quê luôn, hiện tại tôi đang sống cùng bố mẹ và nhà tôi không có con trai nên sau này bố mẹ sẽ để lại nhà cho tôi và con trai tôi ở, xin nói thêm nhà tôi không giàu có lắm nhưng cũng thuộc dạng có điều kiện. Bố mẹ tôi buôn bán và đang không có người phụ nên ông bà tính để tôi ở quê phụ và trông con. Chồng tôi đã nói với gia đình tôi sau tết sẽ ra tòa ly hôn nhưng đợi mãi đến giờ vẫn chưa thấy. Chồng tôi làm tháng hơn chục triệu hoặc hơn nữa nếu tăng ca nhiều còn tôi thì lương 5 triệu nhưng đến tháng 6 năm nay là hết thời hạn nghỉ thai sản và tôi cũng nghỉ việc luôn. Chồng tôi làm việc theo 3 ca và nhà chồng tôi rất nghèo tôi biết họ không quan tâm gì đến con cháu chỉ biết đến tiền thôi. Vậy luật sư cho tôi hỏi nếu giờ chồng tôi nộp đơn ly hôn thì tôi có được quyền nuôi con, từ lúc sinh con đến giờ chồng không trợ cấp được cho mẹ con tôi 1 đồng. Nếu chồng tôi nộp đơn ly hôn thì chúng tôi sẽ hầu tòa tại đâu và mất bao lâu thì mới hoàn tất việc ly hôn xin nói thêm quê tôi ở Bình định còn quê chồng ở ĐăkNông và lúc trước làm giấy kết hôn ở Bình Định tôi cũng chưa nhập khẩu về nhà chồng. Con trai hiện đã làm giấy khai sinh nhưng cũng chưa nhập khẩu về bên đó.

    Trả lời tư vấn. Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Căn cứ tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về Ly hôn theo yêu cầu của một bên:

    1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được....."

    Nếu bạn và chồng cảm thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc hôn nhân này nữa thì một trong hai người có quyền đơn phương yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

    Căn cứ tại Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

    1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

    a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

    ....

    Điều 39  Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

    1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

    a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

    b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

    c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

    Nếu hai vợ chồng thống nhất ly hôn, thì có thể thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu tòa án nhân dân cấp huyện một trong hai nơi vợ hoặc chồng đang cư trú, làm việc để giải quyết ly hôn.

    Nếu chồng bạn nộp đơn ly hôn, chồng bạn biết rõ hiện bạn đang có hộ khẩu hoặc nơi cư trú thường xuyên ở Bình Định thì Tòa Án nhân dân cấp huyện nơi bạn đang ở có thẩm quyền giải quyết.

    Nếu bạn nộp đơn ly hôn thì Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết.

    Lưu ý: Hiện tại bạn đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, căn cứ tại Khoản 3 Điều 51 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn (Luật Hôn nhân gia đình năm 2014)

    "3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

    Do vậy chồng bạn không có quyền yêu cầu ly hôn, nhưng bạn có quyền nộp đơn ly hôn trong thời gian này.

    Nếu vợ hoặc chồng nộp đơn ly hôn có tranh chấp về quyền nuôi con thì sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

    Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

    1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

    2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

    Theo ý kiến cá nhân, nếu trong thời gian này, bạn nộp đơn ly hôn, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp về hoàn cảnh, điều kiện của các bên và quy định của pháp luật thì bạn sẽ có quyền nuôi con. Do bạn không đề cập đến tài sản nên chúng tôi không tư vấn về phần này.

    Về thời gian giải quyết ly hôn, tùy theo mức độ phức tạp của vụ việc thời gian giải quyết sơ thẩm từ 4-6 tháng, nếu có kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử phúc thẩm có thể mất 3-4 tháng.

    Trên đây là nội dung tư vấn về: Một số vấn đề về thủ tục ly hôn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn ly hôn trực tuyến để được giải đáp.

    Trân trọng.

Bài viết nổi bật

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ miễn phí

 1900 6169