LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn nhưng không lập thành văn bản?

Luật sư tư vấn trường hợp muốn hỏi về trường hợp thỏa thuận phân chia tài sản (thỏa thuận tài sản là đất cho con gái) nhưng không lập thành văn bản, và vấn đề phân chia tài sản vợ chồng theo quy định pháp luật, nội dung cụ thể như sau:

1. Thỏa thuận tài sản vợ chồng không lập văn bản quy định thế nào?

Câu hỏi: Chào luật sư Luật Minh Gia, Bạn em vừa mới ly hôn lý do chồng ngoại tình, tài sản thì tòa nói hai vợ chồng thỏa thuận. sau khi ly hôn 2 vợ chồng thỏa thuận nhường lại tài sản cho đứa co gái duy nhất khi nó 18 tuổi. năm nay bé 8 tuổi.hiện giờ sổ đất tên người chồng. người vợ muốn san qua tên mình mà chồng không chịu.vậy nếu không sang tên qua tên người vợ vậy khi chồng trở mặt thì người vợ có bị mất 1 nửa còn lại của mình dành cho con gái không? vì thỏa thuận không có giấy tờ. Nếu bị mất thì người vợ phải làm sao? xin luật sư tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn

chia-tai-san-ly-hon-ko-lap-van-ban-jpg-12112014031626-U1.jpg

Tư vấn quy định về thỏa thuận phân chia tài sản khi ly hôn, gọi: 1900.6169

Trả lời: Công ty Luật Minh Gia trả lời bạn như sau:

Căn cứ vào câu hỏi của bạn thì trong trường hợp vợ chồng khi ly hôn đã thỏa thuận với nhau về việc để lại tài sản cho con khi con đủ 18 tuổi thì vợ chồng nên lập ra 1 biên bản thỏa thuận kèm theo 1 hợp đồng tặng cho tài sản cho con và được văn phòng công chứng xác nhận. Như vậy thì dù tài sản đó hiện giờ đứng tên vợ hoặc chồng đều không ảnh hưởng đến khối tài sản.

Trong trường hợp, vợ chồng không làm biên bản thỏa thuận cũng như hợp đồng tặng cho tài sản cho con gái, nếu vợ lo sợ người chồng chiếm giữ hết số tài sản chung đó thì người vợ có thể khởi kiện ra tòa để yêu cầu tòa chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn.

Tài sản chung chia theo nguyên tắc được quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014 về Nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn như sau:

“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Người vợ sẽ phải chứng minh căn nhà là tài sản chung của vợ chồng được hình thành trong quá trình hôn nhân nhưng để chồng đứng tên.

>> Tư vấn quy định về thỏa thuận chia tài sản vợ chồng, gọi: 1900.6169

2. Chia tài sản của vơ, chồng khi ly hôn như thế nào ?

Câu hỏi tư vấn: Xin chào Luật sư Công ty Luật Minh Gia ! Tôi và chồng tôi do không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chấp thuận ly hôn. Con cái chúng tôi đã thỏa thuận được nhưng tài sản thì chưa. Tài sản bao gồm: một ngôi nhà cấp bốn do em mua trước khi kết hôn (giá trị của mảnh đất là 570 triệu); một căn chung cư do hai vợ chồng mua sau khi kết hôn; sau khi kết hôn chồng tôi thành lập công ty làm riêng với ba người bạn nữa.

Vốn huy động là 30 triệu và có cắm sổ đỏ cho ngân hàng để vay vốn hoạt động (các thành viên khác cũng cầm cố tài sản). Công ty hoạt động khá tốt, thu nhập khá ổn. Hai người đã rút và hiện tại công ty chỉ còn hai cổ đông. Chồng tôi nói rằng, tài sản là căn nhà cấp bốn anh ấy có 1/3; Căn chung cư là ½ và 100% tài sản thứ ba là của anh ấy. Nhưng tôi không đồng ý. Vậy xin hỏi Luật sư số tài sản đó nên chia như thế nào là đúng pháp luật ? Tôi xin cảm ơn !

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

Thứ nhất, về nguyên tắc phân chia tài sản

Căn cứ theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

...”

Như vậy, để có thể phân chia được tài sản của vợ, chồng khi ly hôn thì cần xác định được tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng.

Theo đó, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

+ Về tài sản chung của vợ, chồng

Tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

+ Về tài sản riêng của vợ, chồng

Tài sản riêng của vợ chồng được quy định cụ thể tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bao gồm:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Thứ hai, về phân chia tài sản của vợ chồng

Căn cứ theo các quy định của pháp luật:

Trước khi kết hôn bạn có mua một căn nhà cấp bốn, theo đó sau khi ly hôn thì căn nhà đó vẫn là tài sản riêng của bạn vì nó được hình thành trước hôn nhân và chồng bạn không có quyền đòi chia tài sản đó.

Sau khi kết hôn hai vợ chồng có mua một căn nhà chung cư, đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản này sẽ được chia đôi nhưng có tính tới các yếu tố được quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

+ Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Đối với tài sản thứ ba, theo thông tin bạn cung cấp thì để thành lập công ty thì chồng bạn có cắm sổ đỏ từ căn nhà nhà đang ở để vay tiền ngân hàng. Cần xét hai trường hợp:

- Nếu việc cắm sổ đỏ đã thông qua sự thỏa thuận của hai vợ chồng thì nghĩa là bạn cũng có đóng góp vào việc thành lập nên công ty nên khi chia tài sản thì bạn cũng sẽ nhận được một phần giá trị từ tài sản đó, có tính tới hoa lợi, lợi tức hình thành trong quá trình công ty hoạt động nhưng cần có sự thỏa thuận.

- Nếu chồng bạn tự ý lấy sổ đỏ đi cắm và không hỏi ý kiến bạn thì bạn không có quyền đòi chia tài sản trong khối tài sản của công ty. Tức là công ty đó thuộc về quyền sở hữu riền của chồng bạn và hai cổ đông còn lại của công ty.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn nhưng không lập thành văn bản? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn chia tài sản khi ly hôn trực tuyến để được giải đáp.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn