Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

    • 27/08/2020
    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định như thế nào? Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng? Tài sản nào được xác định là tài sản chung của vợ chồng? Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung được quy định ra sao? Quy định về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân?

    1. Luật sư tư vấn về tài sản chung của vợ, chồng

    Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Để xây dựng nền tảng hôn nhân bền vững, ngoài việc hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng thì việc tạo lập tài sản của vợ chồng là một trong những điều kiện để duy trì cuộc sống gia đình. Theo đó, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Về vấn đề này bạn có thể tìm hiểu kỹ quy định liên quan hoặc hỏi ý kiến tư vấn của luật sư để có quyết định đúng đắn và phù hợp. Trong trường hợp bạn cần hỗ trợ, tư vấn để đảm bảo tối đã quyền lợi của mình thì bạn có thể gửi câu hỏi đến Luật Minh Gia hoặc gọi Hotline1900.6169 để được chúng tôi hỗ trợ.

    Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để có thêm kiến thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    2. Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

    Câu hỏi: Thưa luật sư cho tôi hỏi về quy định chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: Tôi có một người con riêng, vợ tôi có hai người con riêng. Tôi có thừa kế một căn nhà do cha tôi để lại, giấy chủ quyền nhà ghi tên vợ chồng tôi.

    Nay tôi muốn bán nhà để lấy vốn làm ăn nhưng vợ tôi không đồng ý. Tôi cho rằng đây là nhà do cha tôi để lại thì tôi có quyền bán không cần hỏi ý kiến của vợ tôi. Nhưng vợ tôi lại cho rằng đó là tài sản chung, khi bán phải có sự đồng ý của bà. Vậy tôi có được tự bán nhà hay phải có sự đồng ý của cả vợ tôi?

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Khoản 1 Điều 44 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. 

    Căn cứ vào quy định trên, nếu giấy quyền sở hữu căn nhà mà anh được thừa kế từ cha của anh ghi tên anh thì căn nhà đó là tài sản riêng của anh. Nhưng giấy quyền sở hữu căn nhà đó lại được ghi tên của cả vợ, chồng anh. Chính vì vậy, căn nhà đó đã trở thành tài sản chung của vợ, chồng anh.

    Tại Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: 

    Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

    1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

    2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

    a) Bất động sản;

    b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

    c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

    >> Tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn chia thế nào, Gọi: 1900.6169

    Căn nhà là một tài sản chung có giá trị lớn, việc bán căn nhà để lấy vốn làm ăn, theo quy định trên phải được vợ, chồng cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận. Nhưng nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được thì bạn có thể yêu cầu tòa giải quyết theo quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

    Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

    1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

    2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

    3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

    Tìm hiểu thêm Quy định chung theo luật HNGĐ

    Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    - Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

    - Về quyền chiếm hữu, sử dụng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định.

    Như vậy, về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bởi vợ chồng có mâu thuẫn trong quản lý, sử dụng tài sản chung hoặc bởi vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn độc lập về tài sản… vì vậy tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.

    - Theo hướng dẫn tại Điều 6, Điều 7, Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi thành Luật HN&GĐ năm 2000 thì việc thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân  phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây:

    +  Lý do chia tài sản;

    +  Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;

    +  Phần tài sản còn lại không chia, nếu có;

    +  Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;

    +  Các nội dung khác, nếu có.

    - Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

     - Về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung:

    + Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.

    + Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng, thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thoả thuận; nếu văn bản không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.

    + Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.

    + Trong trường hợp Toà án cho chia tài sản chung theo quy định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày quyết định cho chia tài sản chung của Toà án có hiệu lực pháp luật.

    - Hậu quả chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.

    Như vậy để đầu tư kinh doanh riêng, giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản chung, lập văn bản có chứng thực. Nếu không thỏa thuận được thì một bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Trân trọng!

Bài viết nổi bật
 Gửi yêu cầu tư vấn