Mai Hồng

Nhờ tư vấn tranh chấp nuôi con xử lý thế nào?

Kính chào Quý Văn phòng luật sư! Chúc Quý văn phòng công việc ngày càng thành công hơn nữa!Xin phép nhờ tư vấn như sau: Từ khi tôi bầu hai tháng cho đến nay con tôi đã gần 8 tháng.

Bố đứa bé không hề hỏi han quan tâm hay trợ cấp nuôi dưỡng. Lúc tôi có bầu bị bố đứa bé đánh đập tím cả mặt mũi, vì sợ quá nên tôi đã bỏ đi. Sau đó a ta nhắn tin đe doạ chửi bới tôi, vì lo sợ nên tôi có nói không có đứa bé nào là con anh ta và anh ta đã đe doạ giết mẹ con tôi. Gia đình anh ta xuống bảo mẹ tôi đưa tôi đi phá thai. Bây giờ anh ta lại muốn tranh quyền nuôi con với tôi. Vậy xin quý văn phòng tư vấn giúp tôi trường hợp ly hôn liệu tôi có thể yêu cầu toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh ta không ạ. Và mức trợ cấp nuôi con là bao nhiêu ạ. Nếu anh ta không trợ cấp hàng tháng thì tôi có quyền kiện hay hạn chế gì anh ta không ạ. Mục đích của tôi là chỉ cần cấm anh ta lại gần tôi và con tôi thôi ạ. Mong quý văn phòng tư vấn cho tôi cách giải quyết ạ.Tôi chân thành cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Khi ly hôn, bạn có thể yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom của chồng với những trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.”

Mức trợ cấp nuôi con được tòa xem xét căn cứ trên hoàn cảnh cụ thể như con chưa thành niên,… và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không có quy định cụ thể về vấn đề này.

Trường hợp anh ta không trợ cấp cho bạn sau khi bản án, quyết định của tòa án về việc giải quyết vấn đề ly hôn và việc cấp dưỡng nuôi con đã có hiệu lực thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án đối với bản án, quyết định của tòa án căn cứ theo quy định tại Điều 7 và khoản 1 Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008:

“Điều 7. Quyền yêu cầu thi hành án

Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án”

“Điều 30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.”

Đơn yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 31 Luật này:

“Điều 31. Đơn yêu cầu thi hành án

1. Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

2. Người làm đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân.

Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án.

Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có.

3. Người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật này.”

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí