Tuấn Luật sư

Nhờ luật sư tư vấn về vi phạm Luật Hôn nhân gia đình

Luật sư giải đáp trường hợp hỏi tư vấn về trường hợp vi phạm quy định Luật Hôn nhân gia đình? tư vấn chế độ tài sản chung của vợ chồng và xử lý hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình và các quy định pháp luật Hôn nhân gia đình liên quan, cụ thể nội dung hỏi và trả lời tư vấn như sau:

1. Thủ tục yêu cầu ly hôn do vi phạm luật HNGĐ giải quyết thế nào?

Nội dung đề nghị tư vấn: Xin luật sư công ty Luật Minh Gia giải đáp tư vấn giúp tôi 1 năm trước đây tôi với vợ tôi giận nhau cô ấy đem con trai thứ hai 9 tháng của chúng tôi về quê sống với mẹ cô ấy ở HG để lại cho tôi cháu đầu 24 tháng cho tôi, Tôi nghĩ để cô ấy về quê sống và cũng để có thời gian chúng tôi nhìn nhận ra lỗi lầm rồi trở vào lại B với tôi (do tôi làm việc và sống ở B) nhưng 4 tháng sau cô ấy quyết định gởi đơn và ly hôn với tôi, lúc này tôi nghĩ vậy là cô ấy đã quyết xa cha con tôi trong này nên tôi cung chấp nhận để làm vừa lòng cô ấy nhưng cung hy vọng là sau này cô ấy hiểu ra chúng tôi sẽ trở về với nhau vì 2 đứa con.

Khi ly hôn tòa quyết định cho tôi được nuôi cháu đầu vì lý do khi sinh ra cháu được bà nội cháu là mẹ tôi chăm sóc (vì cả 2 con trai tôi sinh phải mổ nên cả 2 đứa ko bú sữa mẹ mà phải nuôi sữa ngoài) còn cô ấy nuôi con trai thứ 2 của tôi, tôi xin nuôi 2 cháu nhưng cô ấy không cho và cũng theo luật ly hôn con còn nhỏ phải được sống với mẹ, vì vậy tôi phải đành chấp nhận xa con trai thứ 2 của tôi.

Mấy tháng sau nữa cô ấy lấy chồng mới. Có lẽ mọi chuyện tôi sẽ mãi không biết được nhưng rồi trong chuyến đi công tác trên đường trở về tôi nhớ con trai thứ 2 của tôi , thì tôi mới rõ nguyên nhân cô ấy quyết định chia tay tôi, thì ra trong thời gian cô ấy giận tôi về quê đã có người đàn ông khác và sống với nhau và lỡ có bầu nên muốn sớm ly hôn với tôi, nhưng vì tòa án cũng phải giải quyết theo tự nên được như mong muốn của cô ấy và chồng cô ấy bây giờ vì. Cô ây theo chồng mới của cô ấy để cháu trai thứ 2 của tôi sống với bà ngoại.

Vậy xin Luật sư tư vấn giúp tôi: cô ấy với chồng hiện giờ đã sống với nhau và có thai mấy tháng trước khi chúng tôi nhận quyết định ly hôn giữa 2 người họ phạm luật không ?, và hiện giờ tôi có quyền truy tố chồng cô ấy hiện tai với hậu quả gia đình 2 bên tan vỡ con cái tôi mât đi gia điình và tổn thương ảnh hưởng cuộc sống của tôi 2 đứa con tôi có mẹ mà như không,1 đứa thì mất cha, và tôi phải làm thế nào để được phép nuôi 2 cháu ?

Xin Luật Sư vấn và giúp tôi ,tôi xin chân thành cám ơn.

Nhờ luật sư tư vấn về vi phạm Luật Hôn nhân gia đình
>> Tư vấn pháp luật Hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6169

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Việc vợ cũ của anh có thai với người khác trước khi có quyết định ly hôn của tòa án, trường hợp này pháp luật quy định tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định các hành vi bị cấm như sau:

2. Cấm các hành vi sau đây:

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

Bên cạnh đó tại điều Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, trường hợp này cần có đủ điều kiện cấu thành tội phạm (Hành vi chung sống như vợ chồng, hậu quả như Khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự...) Nếu không chứng minh được hoặc không có căn cứ thì không thể khởi tố vụ án hình sự đối với trường hợp bạn hỏi.

Thứ hai về vấn đề nuôi con thứ 2

Theo quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau:

"...1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên thì để được nuôi con thứ 2, bạn phải đợi cho cháu bé đủ 36 tháng tuổi rồi mới có quyền yêu cầu tòa án giải quyết cho bạn nuôi cháu bé.

Khi đó bạn cần làm đơn ra tòa án yêu cầu được nuôi cháu thứ 2 với lý người mẹ không đủ điều kiện về vật chất, tinh thần để chăm sóc và nuôi dưỡng con.Bạn cho rằng những thiếu thốn đó sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và quá trình phát triển của cháu bé sau.Bạn cũng nên đưa ra lý do là vợ bạn bỏ theo chồng mới và để cháu bé cho bà ngoại nuôi thể hiện thái độ thiếu quan tâm chăm sóc đối cháu bé.Từ đó sẽ làm căn cứ để tòa án xem xét và cho phép bạn nuôi 2 cháu bé.

Căn cứ theo Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Luật hôn nhân gia đình năm 2014 như sau:

"1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

...

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Ngoài ra, thông qua Email bạn gửi chúng tôi đã tư vấn thêm và phân tích chi tiết cho bạn, đề nghị bạn tham khảo và đối chiếu vào trường hợp của mình.

>> Luật sư tư vấn quy định về chế độ hôn nhân gia đình, gọi: 1900.6169

2. Tư vấn về tài sản chung của vợ chồng và xử lý hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình.

Câu hỏi: Tôi và vợ của có quen nhau và đã sống thử trước khi hôn nhân. Trong thời gian sống thử thì vợ tôi đã có một đời chồng và đã li thân trước đó 3 năm. Đến khi quen và về sống thử với nhau thì cô ấy có một khoản tiền rồi nhờ cô em ruột đứng ra mua nhà đứng tên của e cô ấy. Đến lúc cô ấy li hôn với chồng xong thì em cô ấy mới làm giấy tờ cho tặng lại cho cô ấy.

Theo tôi được biết thì không có làm thủ tục cho tặng tài sản riêng. Đến khi tôi và cô ấy kết hôn thì có mua một căn nhà đứng tên chung cả hai vợ chồng là tài sản chung. Vậy cho tôi hỏi căn nhà trước khi kết hôn như vậy thì khi ly hôn tôi có được quyền yêu cầu xác nhập tài sản chung không. Và nếu sự thật như theo tôi nói thì người chồng cũ có được quyền đòi hỏ không. Và khi chưa li hôn chồng cũ mà cô ấy đã kết hôn với người nước ngoài thi tôi có được quyền khởi kiện cô ấy không. Và nếu kiện thi hậu quả sẽ ra sao? Xin luật Minh Gia tư vấn giúp tôi. Để tôi chọn lựa sự quyết định đúng đắn. Xin cảm ơn!

Trả lời: Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ theo Điều 43 luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng

1.Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Và căn cứ theo Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Do đó, trong trường hợp căn nhà mà em vợ bạn đứng tên thực hiện tặng cho, chuyển nhượng quyền sử hữu cho vợ bạn trước thời kì hôn nhân thì nó được xác định là tài sản riêng của vợ bạn. 

Căn nhà trên sẽ được xác định là tài sản chung nếu sau khi kết hôn hai bạn có thỏa thuận, vợ bạn đồng ý nhập căn nhà vào khối tài sản chung của hai vợ chồng , thỏa thuận trên phải được lập bằng văn bản và phải có công chứng.

Về quyền lợi của người chồng cũ đối với căn nhà trên:

Căn nhà trên do e vợ của bạn đứng tên nên về nguyên tắc khi vợ bạn và người chồng cũ  ly hôn sẽ chỉ giải quyết tài sản chung của hai vợ chồng và người chồng cũ của vợ bạn sẽ không có quyền đối với căn nhà trên. 

Căn cứ theo Điều 5 luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Như vậy, hành vi chưa ly hôn với chồng cũ mà kết hôn với người khác là hành vi trái pháp luật theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời để ngăn chặn và xử lý vợ anh vì có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. 

Căn cứ theo Điều 4 thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật như sau:

1. Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình để quyết định.

2. Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:

a) Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn.

b) Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình.

c) Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tạiĐiều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.

Do đó, nếu như anh là một trong các bên có liên quan trực tiếp đến quan hệ hôn nhân với vợ anh thì anh có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của vợ anh với người khác. Cuộc hôn nhân này sẽ bị chấm dứt kể từ khi có quyết định của Tòa án.

Hành vi này của vợ bạn có thể bị xử phạt hành chính, ngoài ra nếu vợ anh là người đang có chồng mà  kết hôn với người khác gây hậu quả nghiệm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Như vậy, nếu vợ bạn là người đang có chồng mà thực hiện kết hôn với người khác thì cuộc hôn nhân sau là trái pháp luật và sẽ Tòa án tuyên hủy khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên vợ, chồng. Ngoài ra, vợ bạn sẽ bị sử phạt hành chính và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định như tôi đã phân tích ở trên do có hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Nhờ luật sư tư vấn về vi phạm Luật Hôn nhân gia đình. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến để được giải đáp.

Hotline: 1900.6169