Nguyễn Thị Biển

Người vợ đang mang thai có được giải quyết ly hôn không?

Kính gửi Luật Minh Gia,Tôi có một số vấn đề thắc mắc, kính mong nhận được sự giải đáp từ quý luật sư. Hiện tại tôi đang mang thai 24 tuần. Vợ chồng tôi có mâu thuẫn từ mùng 09 Tết. Từ đó tới giờ vợ chồng tôi ly thân. Lúc đó tôi mới mang thai 12 tuần

Vấn đề tôi muốn hỏi như sau:

Thứ nhất, Hiện tại tôi đang mang thai như vậy thì tòa án có thụ lý đơn ly hôn của tôi hay không ạ?

Thứ hai, Nếu như tòa không giải quyết ly hôn trong khi tôi mang thai rất yếu, không đi làm được mà chồng tôi lại không có trách nhiệm với con. Không có tiền thuốc thang khám xét. Khi tôi có yêu cầu thì chồng tôi lại nói khi nào tòa xử mới chu cấp cho con. Vậy luật sư cho tôi hỏi trường hợp này thì tôi phải chiu hoàn toàn chi phí trong suốt quãng thời gian mang thai, sinh nở và nuôi con còn chồng tôi thì không hay sao ạ?

Thứ ba, Chồng tôi bỏ bê mẹ con tôi như vậy liệu lúc làm khai sinh cho con thì tôi có quyền cho con mang họ của tôi hay không ạ?

Thứ tư, Vấn đề tài sản. sau khi cưới. Vợ chồng tôi có hơn 2 cây vàng. Hiện tại còn tròn 1 cây tôi gửi mẹ chồng nhưng mẹ chồng lại đưa chồng tôi( đưa khi nào tôi không biết và chỉ nói với tôi là đưa cho chồng tôi rồi)hiện tại chồng tôi đang giữ 1 cây vàng đó. Nhưng chồng tôi nhất quyết không trả với lý do là tôi phải mang trả về cho chồng tôi hơn 1 cây vàng đã bán khi vợ chồng đang chung sống thì mới chia đôi. Vậy vấn đề này sẽ được tòa giải quyết như thế nào ạ? Trong khi tiền vàng cưới bên nhà chồng cho là 7 chỉ, còn lại là bên nhà mẹ đẻ tôi cho. Một cây vàng chồng tôi đang giữ cũng là bố mẹ đẻ tôi cho hồi môn cho con gái lấy chồng. Trước khi ly thân vợ chồng tôi rất ít cãi vã và khi tôi về ăn Tết với bố mẹ chồng thì có để lại nhà chung của hai vợ chồng( Nhà công vụ của đơn vị chồng cho thuê) hơn 6 triệu đồng. Nhưng giờ tôi yêu cầu chồng tôi đưa lại cho tôi chồng tôi không chịu đưa với lý do là tiền để trong nhà chồng tôi là của chồng tôi. Vậy vấn đề này luật sẽ giải quyết như thế nào ạ?Kính mong nhận được giải đáp từ quý luật sư,Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia với vụ việc của bạn chúng tôi có quan điểm tư vấn như sau:

Thứ nhất, tại khoản 3 điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có quy định như sau:

Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

.......

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo quy định của pháp luật cả người vợ và người chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên trong trường người vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì quyền đơn phương yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng sẽ không được Tòa án giải quyết.

Như vậy đối chiếu với tình huống của bạn vì hiện tại bạn đang mang thai nên nếu việc ly hôn này do cả 2 vợ chồng cùng thuận tình ly hôn hoặc do bạn muốn đơn phương xin ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết, còn trong trường hợp người chồng đơn phương xin ly hôn thì Tòa án sẽ không chấp nhận hồ sơ giải quyết ly hôn này.

Thứ hai, trong trường hợp bạn đơn phương xin ly hôn mà Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án mà đã có quyết định người chồng phải cấp dưỡng cho con hay phải có trách nhiệm trong việc chu cấp cho bạn thì khi người chồng không thực hiện theo bản án thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế người chồng thi hành bản án. Còn trường hợp đây là người chồng đơn phương xin ly hôn (bạn cũng không muốn ly hôn) thì lúc này hai vợ chồng sẽ phải tự thỏa thuận về mức chu cấp.

Thứ ba, theo quy định tại điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 có nội dung như sau:

1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.

2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.

Như vậy, họ của con được xác định là họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ. Do vậy khi 2 vợ chồng bạn thỏa thuận để con theo họ mẹ thì bạn được đăng ký khai sinh cho bé theo họ của mẹ, hoặc trong trường hợp 2 bên không thỏa thuận mà theo tập quán thì xác định họ của con theo họ mẹ thì bạn vẫn có quyền đăng ký khai sinh cho con theo họ của bạn.

Thứ tư, vấn đề chia tài sản khi ly hôn được quy định tại điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, tức là sẽ do hai bên tự thỏa thuận phân chia khối tài sản, nếu như không thỏa thuận được thì chia như sau:

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Xác định tài sản chung và riêng của 2 vợ chồng trong trường hợp này sẽ phải xem xét. Số vàng mà bạn và chồng được  tặng cho có phải là tặng cho riêng hay không? Nếu là tặng cho riêng mỗi người thì được xác định là tài sản riêng, còn trường hợp người tặng cho tặng cho chung cả 2 vợ thì sẽ được xác định là tài sản chung. Ví dụ phần 1 cây vàng mà nhà bên ngoại cho bạn nếu đây là tặng cho riêng bạn thì được xác định là tài sản riêng và không phải phân chia khi ly hôn. Người chồng nói rằng tiền trong nhà chồng là của chồng như vậy là không có căn cứ. 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
 CV tư vấn: Hà Tuyền - Luật Minh Gia

Gọi ngay