Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Ly hôn theo yêu cầu của một bên và chia tài sản khi ly hôn

    • 07/11/2019
    • Trương Quỳnh Trang
    • Kính gửi Công ty luật Minh Gia !Em nhờ Công ty tư vấn giúp em quy định của pháp luật về quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ Tòa án giải quyết ly hôn. Giải quyết tài sản sau khi ly hôn như sau: Em & chồng đăng ký kết hôn ngày 21/9/2015, Trước đó ngày 10/8/2015 là đám Nối, cha mẹ chồng có trình nạp tài cho em 1 cây vàng,

    Đến ngày 21/1x/201x rước dâu về bên nhà trai thì chú bác, anh chị bên chồng cho vợ chồng em 05 chỉ vàng,đến ngày 27/3/201x thì cha mẹ chồng dẫn em về nhà cha mẹ ruột nói là: Cho gửi lại con dâu, vì dạy không biết nghe lời.Em ở bên nhà mẹ ruột đến ngày 20/4/2016 thì chồng nhắn tin điện thoại cho em đòi ly hôn & nói em phải trả lại 05 chỉ vàng chú bác bên chồng cho ( Vì cho chồng chứ không phải cho cô dâu ).Nhưng em không đồng ý ly hôn, vì em còn thương chồng mình, Vợ chồng em chưa có con hoặc có tài sản nào khác ạ.

    Vậy cho em hỏi:

    1. Nếu em không đồng ý ly hôn thì chồng em có thể đơn phương xin ly hôn được không ạ ?

    2. Vàng cưới có phải chia đôi hoặc trả lại 05 chỉ vàng như lời chồng em nói không ạ ?

    Em xin cám ơn & mong chờ hồi âm ạ !

     

    Trả lời:

    Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Chúng tôi xin trả lời bạn như sau:

     1. Nếu em không đồng ý ly hôn thì chồng em có thể đơn phương xin ly hôn được không ạ ?

    Căn cứ theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu ly hôn thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
     
    Do đó, chồng bạn vẫn có quyền đơn phương yêu cầu giải quyết ly hôn mặc dù bạn không đồng ý. Tuy nhiên, khi ly hôn cần phải có căn cứ thì Tòa án mới tiến hành giải quyết. Nếu một bên đơn phương yêu cầu ly hôn mà không có căn cứ thì sẽ bị Tòa án sẽ không giải quyết yêu cầu ly hôn.


    Căn cứ theo Điều 56 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:
     
    1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
     
    2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
     
    3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
     
    Như vậy, khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có 1 trong những căn cứ sau:

     

    - Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình

     

    - Vi phạm nghĩa vụ của vợ, chồng

     
    Và những hành vi trên dẫn tới hậu quả: hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thì khi đó Tòa án sẽ giải quyết cho hai bên ly hôn.
     
    Do đó, Tòa án sẽ căn cứ vào hành vi và mức độ, tình trạng hôn nhân mà giải quyết việc ly hôn. Nếu có những căn cứ trên thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn mà không phụ thuộc vào việc bạn có đồng ý hay không. Nếu như không có những căn cứ trên thì Tòa án sẽ không giải quyết yêu cầu ly hôn


    2. Vàng cưới có phải chia đôi hoặc trả lại 05 chỉ vàng như lời chồng em nói không?
     
    Căn cứ theo Điều 33 luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:
     
    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
     
    Như vậy, tài sản mà vợ chồng  làm ra trong thời kì hôn nhân do lao động, sản xuất kinh doanh…tài sản  được thừa kế, tặng cho chung thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng.


    Trong trường hợp không có căn cứ để chứng ming tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
     
    Khi ly hôn, hai bên vợ chồng sẽ thỏa thuận về việc chia tài sản chung nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ tiến hành chia. Theo Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 khi chia tài sản khi ly hôn về nguyên tắc tài sản chung sẽ được chia đôi căn cứ vào công sức đóng góp, cũng như đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
     
    Trước khi bạn kết hôn có được gia đình bên chồng cho vàng. Vàng là tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu nên khi xác định là tài sản riêng hay chung cần có các căn cứ chứng minh.
     
    Đối với một cây vàng nếu bố mẹ chồng bạn tặng, cho bạn trước khi về làm dâu thì nó được xác định là tài sản riêng của bạn.
     
    Đối với 5 chỉ vàng vào ngày cưới cô chú, các bác bên chồng cho hai vợ chồng thì được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng vì được tặng cho chung, khi ly hôn sẽ được chia đôi.

    Khi xác định tài sản này là tài sản này tài sản riêng thì bạn phải có các căn cứ chứng minh. Nếu không thể chứng  minh đây là tài sản riêng thì nó sẽ được xác định là tài sản chung. Và theo nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi căn cứ vào công sức đóng góp và bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em.

    Trên đây là nội dung tư vấn về: Ly hôn theo yêu cầu của một bên và chia tài sản khi ly hôn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình để được giải đáp.

Bài viết nổi bật
 Gửi yêu cầu tư vấn