Tuấn Luật sư

Ly hôn khi không có đăng ký kết hôn được thực hiện như thế nào?

Luật sư tư vấn về việc ly hôn khi không có đăng ký kết hôn. Nếu không có đăng ký kết hôn thì tài sản và con sẽ được xử lý như thế nào? Quy định của luật hôn nhân và gia đình về vấn đề này như thế nào? Chi tiết hỏi và trả lời tư vấn như sau:

1. Thủ tục ly hôn nhưng không có đăng ký kết hôn giải quyết thế nào?

Câu hỏi: Chào luật sư, cho em hỏi trường hợp: Dì em lấy chồng năm 1988 nhưng không đăng kí kết hôn, liệu bây giờ dì em ly hôn thì có được pháp luật công nhận hay không? Vì không ở được với người chồng vũ phu, đã rất nhiều lần anh chồng đánh dì em ngất đi, dì em không ở được đã đưa 1 đứa con về nhà bà ngoại em ở. Bây giờ người chồng muốn ly hôn và muốn tách dì em ra khỏi sổ hộ khẩu, nhưng dì em không đồng ý tách thì liệu có tách được không? Và giờ nếu ly hôn thì dì em có được hưởng quyền lợi gì không? Và người chồng có phải chịu trách nhiệm gì để nuôi đứa con bé không?

>> Tư vấn thủ tục ly hôn và giấy tờ liên quan, gọi: 1900.6169

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi đề nghị tư vấn, trường hợp bạn hỏi Công ty luật Minh Gia tư vấn cho bạn như sau:

Theo quy định những trường hợp được coi là vợ chồng như sau:

“Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003).”

Như vậy thì dì bạn và chồng được pháp luật công nhận là vợ chồng, vì vậy trong trường hợp hai vợ chồng không thể chung sống thì cả hai tiến hành thủ tục ly hôn như những cặp vợ chồng có đăng ký kết hôn.

I. Về quyền trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

Quy định tại  Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, trong trường hợp con ở với mẹ thì người cha phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cho tới khi con đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau hoặc không có thể yêu cầu tòa giải quyết.

II. Về việc chia tài sản chung vợ chồng.

Quy định tại điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 về Tài sản chung vợ chồng như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Về vấn đề chi tài sản được quy định tại Điều 59 Luật HNGĐ 2014 về Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn như sau:

“... 2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Như vậy, nếu ly hôn thì người vợ sẽ được hưởng quyền lợi từ khối tài sản chung vợ chồng.

III. Về vấn đề tách hộ khẩu.

Vì câu hỏi của bạn không nêu rõ dì bạn đã về ngoại sống lâu chưa nên có hai khả năng như sau:

Thứ nhất, dì bạn vẫn đang sinh sống ổn định tại nhà của hai vợ chồng. Như vậy nơi thường trú của người đó đương nhiên phải ở nhà của hai vợ chồng. Nếu người chồng không muốn chung hộ khẩu với dì bạn thì người chồng có thể yêu cầu làm thủ tục tách hộ khẩu. Điều kiện và thủ tục tách khẩu được quy định tại Điều 27 Luật Cư trú:

“...Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”.

Như vậy, nếu người chồng là chủ hộ và muốn tách hộ khẩu của dì bạn ra thì người chồng vẫn có thể thực hiện việc đó, tuy nhiên việc tách khẩu không có nghĩa là dì bạn sẽ không còn hộ khẩu ở đó, mà dì bạn chỉ đứng riêng tên trên 1 hộ khẩu nhưng vẫn thường trú tại địa chỉ đó.

Thứ hai, nếu dì bạn đã chuyển về nhà ngoại và đã sinh sống lâu dài, ổn định ở đó; hiện không còn bất kỳ liên quan gì đến nhà chồng nữa .

Theo quy định tại Điều 23 Luật Cư trú thì: Người đã đăng ký thường trú mà thay đổi chỗ ở hợp pháp thì trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới có trách nhiệm làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú. Cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật này có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện việc thay đổi nơi đăng ký thường trú.

Như vậy, khi đã chuyển chỗ ở hợp pháp thì dì bạn phải có trách nhiệm làm thủ tục chuyển khẩu từ nhà chồng sang nhà ngoại. Theo quy định về trình tự, thủ tục tại Luật Cư trú và văn bản hướng dẫn thì việc chuyển khẩu, đăng ký hộ khẩu mới phải do chính người chuyển khẩu, người đăng ký hộ khẩu tiến hành (có thể là tự đi làm thủ tục hoặc ký vào các văn bản, giấy tờ liên quan và ủy quyền cho người khác đi làm thủ tục).

>> Tư vấn giải quyết ly hôn khi không có đăng ký kết hôn, gọi: 1900.6169

2. Không đăng ký kết hôn muốn ly hôn có được xử theo luật không?

Hỏi: Anh em sống cùng chị dâu vào khoảng năm 1998 đến nay, có được 2 con nhưng không có đăng ký kết hôn. Tất cả tài sản (gồm nhà cửa đất đai xe cộ) đều do chị dâu đứng tên (em xin nói rõ tất cả tài sản có được là do khi 2 người về sống chung tự làm ra chứ cha mẹ hai bên không có cho). Đến nay do cuộc sống vợ chồng xảy ra vấn đề nên anh em muốn ly hôn. Vậy cho em hỏi tòa án có giải quyết cho việc ly hôn này không? Và việc phân chia tài sản như thế nào? có được thực hiện theo luật HNGĐ.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.”

Anh trai và chị dâu bạn chỉ sống chung mà không đăng ký kết hôn nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Do đó Tòa án sẽ không phân xử ly hôn. Đồng thời, Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng quy định về giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”

Căn cứ khoản 1 nêu trên, do anh trai và chị dâu bạn không đăng ký kết hôn nên việc phân chia tài sản sẽ dựa trên sự thỏa thuận của hai người. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được sẽ giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác liên quan. Trong trường hợp đó, mặc dù tài sản là do cả anh trai và chị dâu bạn tạo dựng trong thời kỳ sống chung nhưng chị dâu bạn hiện nay đứng tên trên giấy tờ nên xét về mặt pháp lý, chủ sở hữu của tài sản là chị dâu bạn. Anh bạn cũng có thể khởi kiện ra tòa để đòi lại tài sản anh bạn đã làm ra theo Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

“1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.”

Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên là chị dâu bạn hiện nay đứng tên trên các giấy tờ pháp lý công nhận quyền sở hữu với tài sản nên việc chứng minh nguồn gốc tài sản do anh trai bạn làm ra sẽ rất khó khăn.

---

3. Không đăng ký kết hôn giải quyết ly hôn như thế nào?

Câu hỏi: Chào luật sư, cho tôi hỏi luật sư về trường hợp muốn ly hôn nhưng không đăng ký kết hôn có giải quyết được không, cụ thể như sau: Vợ chồng tôi lấy nhau từ năm 2001 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn, tại vì thời điểm đó tôi chưa đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, 2 gia đình vẫn tổ chức đám cưới mời họ hàng, bạn bè đến dự đám cưới. Đến nay chúng tôi mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng muốn ly hôn thì phải làm gì? Cảm ơn luật sư.

Trả lời: Căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đã được trích dẫn tại phần tư vấn thứ (2)

Trong trường hợp của bạn, hai vợ chồng bạn chung sống với nhau không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do vậy, nếu hai bạn có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng Điều 15 và Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

“ Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hô

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”

Trên đây là nội dung tư vấn về: Ly hôn khi không có đăng ký kết hôn được thực hiện như thế nào?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn đăng ký kết hôn trực tuyến để được giải đáp.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí