Mai Hồng

Ly hôn đơn phương chia tài sản và quyền nuôi con như thế nào?

Luật sư tư vấn về vấn đề chia tài sản khi hôn và quyền nuôi con của hai vợ chồng.

Câu hỏi đề nghị tư vấn: 

Chào văn phòng luật!

 Con trai và con dâu tôi lấy nhau có 2 con gái,bé lớn 8 tuổi, bé thứ 2 5 tuổi, bé thứ 2 bị tim bẩm sinh đã mổ khi bé 1 tuổi, hiện nay sức khỏe cháu đã ổn. Trong thời gian chung sống với nhau bố mẹ chồng có sang tên sổ đỏ cho 2 con trai và con dâu tôi mảnh đất và nhà trên đất để ở,vài tháng trước con trai tôi có vay tiền để sửa lại nhà hiện vẫn còn nợ.đến nay vợ chồng con tôi cãi nhau và con dâu tôi viết đơn li hôn giành quyền nuôi 2 con và yêu cầu chồng bồi thường 300 triệu + 3 triệu/tháng tiền nuôi con.vậy mong văn phòng luật tư vấn giúp trường hợp của con tôi về tài sản và quyền nuôi con của con trai tôi.trân trọng cảm ơn. 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ quy định của pháp luật quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về vấn đề nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Như vậy, theo quy định trên thì khi ly hôn việc phân chia tài sản trước hết do 2 bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp bác tặng cho đất cho con trai là tặng cho riêng thì tài sản sẽ là tài sản riêng của con trai bác, khi ly hôn người vợ không có quyền yêu cầu chia. Nếu ngôi nhà và tài sản khác là tặng cho chung hai vợ chồng hoặc được thỏa thuận gộp vào tài sản chung của hai vợ chồng thì khi ly hôn người vợ có quyền yêu cầu chia tài sản chung.

Về vấn đề quyền nuôi con được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con sau ly hôn quy định :

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Trong trường hợp của con trai bác, các cháu đều trên 36 tháng tuổi nên bố mẹ đều có thể được quyền nuôi con ngang nhau. Vì vậy đầu tiên sẽ theo thỏa thuận của các bên có xét đến nguyện vọng của cháu 8 tuổi. Nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được việc ai sẽ nuôi con thì tòa án sẽ dựa trên sự cân nhắc về điều kiện của hai bên, cân nhắc về quyền và lợi ích của hai cháu bé để quyết định ai sẽ là người nuôi con. Nếu con trai bác muốn giành quyền nuôi con, phải chứng minh được mình có điều kiện tốt hơn để chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc người mẹ không có điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con.

Theo quy định của Điều 82 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ là người không trực tiếp nuôi con:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Theo đó, trong hai vợ chồng, ai là người không nuôi con sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Việc cấp dưỡng sẽ do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được sẽ do tòa án quyết định có tính toán đến yếu tố điều kiện kinh tế của bên cấp dưỡng.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

Phòng tư vấn – Công ty Luật Minh Gia.

Hotline: 1900.6169