Tuấn Luật sư

Ly hôn chỉ chia tài sản do hai vợ chồng làm ra? quyền nuôi con quy định thế nào?

Nhờ luật sư tư vấn các vấn đề liên quan đến ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng, chia tài sản và quyền nuôi con như sau: Tôi và chồng kết hôn với nhau được khoảng 5 năm, có 1 đứa con sinh ngày xx/xx/201x. Tôi và chồng sống với nhau mâu thuẫn nhiều vấn đề không có được tiếng nói chung.

Bây giờ anh ta nói là muốn ly hôn nhưng để qua năm sau để con tôi được 3 tuổi mới ký giấy ly hôn, vì để như vậy anh ta sẽ giành được quyền nuôi con. Hai vợ chồng lúc đầu ra ở riêng, mẹ chồng có cho 1 khoảng tiền mua máy vi tính về kinh doanh tiệm Internet được 21 máy. Hiện nay, vợ chồng tôi làm mua thêm được 14 máy nữa, tổng cộng bây giờ là 35 máy và mua được thêm 01 chiếc xe máy nouvou 26 triệu, xây thêm được 01 phòng ngủ, 01 nhà tắmlà 60 triệu, cùng nhiều vật dụng khác trong nhà.

Khi ly hôn chia tài sản tôi chỉ được chia phần phát sinh khi hai vợ chồng làm ra có đúng không? Và khi con tôi trên 3 tuổi tôi làm sao để có thể giành được quyền nuôi con? Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Tư vấn thắc mắc về chia tài sản và quyền nuôi con khi ly hôn, gọi: 1900.6169

Tư vấn: Chào bạn, Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, đối với trường hợp trên chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ  nhất, về chia tài sản khi ly hôn:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp

được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Khi 2 vợ chồng bạn ra ở riêng, mẹ chồng bạn có cho 1 khoản tiền ra riêng mua máy vi tính về kinh doanh tiệm Internet. Có thể xác định được mẹ chồng bạn cho chung vợ chồng bạn để vợ chồng bạn có công ăn, việc làm khi ra ở riêng. Vì vậy khoản tiền đó thuộc khối tài sản chung của vợ chồng bạn.

Đồng thời, Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Căn cứ vào quy định trên, thì khi vợ chồng bạn ly hôn, về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng bạn được chia đôi, tuy nhiên Tòa xem xét đến hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.

Thứ hai, về quyền nuôi con sau ly hôn:

Căn cứ tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy, khi ly hôn, về nguyên tắc con dưới 3 tuổi sẽ được giao cho mẹ nuôi, trự khi hai vợ chồng có thỏa thuận khác. Và nếu con từ đủ 3 tuổi trở lên, vợ chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con cái. Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, khi đó người không trực tiếp nuôi con sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tòa sẽ xem xét đến các yếu tố sau đây để đưa ra quyết định:

+ Điều kiện về vật chất bao gồm: ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập.... mà mỗi bên dành cho con. Các yếu tố đó có thể dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ...;

+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi, giải trí..

Bạn có thể căn cứ vào quy định trên để làm căn cứ yêu cầu giành quyền nuôi con.

>> Giải đáp thắc mắc pháp luật hôn nhân gia đình, gọi: 1900.6169

- Muốn ly hôn với chồng và giành quyền nuôi con giải quyết như thế nào?

Chào luật sư! Tôi có em gái lấy chồng được 9 năm nay, có một con trai lớn năm nay lên 7 tuổi, con gái năm nay lên 6 tuổi. Và hiện mới biết mình mang thai 3 tháng. Em gái tôi từ khi lấy chồng thì cuộc sống gia đình không được hạnh phúc. Người chồng luôn cấm đoán vợ quan hệ giao du với người ngoài, và cấm cả giao du với gia đình tôi, kể cả bố mẹ đẻ và anh chị em ruột.Rất nhiều lần có những lời lẽ xúc phạm tới em gái và gia đình nhà vợ. thậm chí có cả những lần đánh em gái tôi. Chồng của em gái tôi sau khi cưới thì làm công việc online ở nhà và gần như không giao tiếp với bên ngoài, thậm chí cả việc về thăm gia đình nhà anh ta. Và không ai biết anh ta làm công việc gì. Theo lời em gái tôi, anh ta nói làm giao dịch với nước ngoài, có nhiều tiền, nhưng chưa lấy được và bị giữ lại bên nước ngoài (tôi thì không tin vào điều đó, vì hàng tháng anh ta còn không đủ tiền để đưa cho vợ con, tới chu kỳ 3-4 tháng nộp tiền nhà là bắt đầu quay sang nhục mạ vợ, cãi nhau vì chuyện tiền nong, sau đó lại đi vay mượn).  Anh ta tính sĩ diện rất cao, luôn coi mình là nhất và không coi bất kỳ ai ra gì. Lúc đầu còn ngăn cản không cho vợ đi làm. Nhưng sau cuộc sống khó khăn quá, em gái tôi đã xin đi làm công nhân. Và gần như khoảng nửa năm về đây, anh ta chỉ lo được tiền thuê nhà, còn toàn bộ việc chi tiêu ăn học cho con do đồng lương ít ỏi của em gái tôi và thi thoảng có trợ cấp từ gia đình tôi. Anh ta đã nhiều lần dọa đuổi đánh, và ly hôn. Nhưng do bố mẹ tôi sợ tai tiếng nên lần lữa, và em gái tôi cũng vì nghĩ cho gia đình nên nhiều lần không quyết ly hôn được. Gần đây, vì chuyện nhỏ nhặt, anh ta đã lăng mạ và đuổi đánh em gái tôi mặc dù biết đang mang thai. Và nói làm đơn xin ly hôn. Anh ta nói với em gái, hoặc là để con cho anh ta nuôi ra đi với bàn tay trắng. Hoặc nếu em gái tôi muốn nuôi thì ký trước vào đơn ly  hôn với nội dung là chấp nhận nuôi con, và anh ta sẽ không trợ cấp bất kỳ một khoản gì, cắt đứt quan hệ vợ chồng, cha con sau ly hôn. Gia đình tôi cũng không cần và cũng không mong đợi vào cái việc trợ cấp của anh ta.

Vậy xin luật sư tư vấn giúp: 1. Trong thời gian này, thủ tục ly hôn sẽ cần phải làm những gì? Tổng thời gian giải quyết là bao lâu? 2. Em gái tôi sẽ được quyền nuôi con không? Và sẽ cần điều kiện gì để nuôi con. Và nếu anh chồng kia muốn cắt đứt quan hệ, thì pháp luật có chấp nhận hay không? Và làm sao để gia đình tôi không bị anh ta làm phiền sau ly hôn? 3. Việc phân chia tài sản sẽ như thế nào? Thực ra tôi hỏi thêm chứ hiện thì vợ chồng em gái tôi không hề có một tài sản gì giá trị quá 10 triệu đồng.  Xin cám ơn và mong nhận được giải đáp của luật sư sớm. Trân trọng!

Tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Về giải quyết thủ tục ly hôn:

Do thông tin bạn cung cấp không nói rõ em gái bạn quyết định muốn giải quyết theo thủ tục ly hôn nào, là thủ tục đơn phương ly hôn hay thuận tình ly hôn, do đó sẽ chia làm hai thủ tục ly hôn như sau:

- Thủ tục đơn phương ly hôn: 

+ Hồ sơ bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn đơn phương theo mẫu.

2. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

3. Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

4. Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

5. Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

6. Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

Lưu ý: các bản sao giấy tờ trên cần công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.

+ Nơi nộp hồ sơ: tại Toà án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn đang cư trú hoặc nơi bị đơn đang làm việc.

+ Thời hạn giải quyết: thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn có thể là 2 tháng đến 6 tháng. Trong đó, thời hạn mở phiên tòa là từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Thủ tục thuận tình ly hôn:

+ Hồ sơ bao gồm:

1. Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;

2. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

3. Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

4. Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

5. Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

6. Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

+ Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú, làm việc của một trong hai bên.

+ Thời gian giải quyết:

Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

Trong thời hạn 15 ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Về việc giành quyền nuôi con khi ly hôn:

Căn cứ theo quy định tại Điều 81 về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 (đã trích dẫn tại phần tư vấn trên).

Căn cứ theo quy định tại Điều 82 về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 như sau:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Theo thông tin bạn cung cấp em gái bạn có hai người con, con trai lớn của em gái bạn hiện đang 7 tuổi và có con gái lên 6 tuổi do đó theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ, chồng em gái bạn trước tiên có thể thỏa thuận về việc ai là người trực tiếp nuôi con. Nếu trong trường hợp vợ chồng em gái bạn không thỏa thuận được ai là người trực tiếp nuôi con thì nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con; Còn nếu con gái của em gái bạn hiện tại đang 6 tuổi thuộc trường hợp con đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi thì sẽ phải xem xét điều kiện của hai bên của vợ chồng em gái bạn.

Do đó, nếu em gái bạn muốn giành quyền nuôi hai con thì em gái bạn phải đưa ra chứng cứ chứng minh với tòa án rằng, em gái bạn có điều kiện tốt hơn chồng em gái bạn về mọi mặt để nuôi hai con phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần bao gồm:

+ Thu nhập hàng tháng (có đảm bảo để nuôi hai cháu hay không?)

+ Chỗ ở ổn định (Có đảm bảo để hai cháu có chỗ ở lâu dài hay không?)

+ Môi trường sống (Có đảm bảo cho sự phát triển cả về tinh thần lẫn thể chất của cháu hay không?)

+ Thời gian làm việc ( Có đảm bảo thời gian để chăm sóc cháu hay không?)

+ Hành vi của cha mẹ: Có hành vi Ngoại tình, bạo lực gia đình… (Người chồng có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và sự phát triển của trẻ)

Nếu em gái bạn giành được quyền trực tiếp nuôi con thì chồng em gái bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con đến đủ 18 tuổi. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể do hai vợ chồng em gái bạn tự thỏa thuận với nhau, nếu không thỏa thuận được thì có thể nhờ tòa án để tiến hành giải quyết.

Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con là chồng cũ em gái bạn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Nếu em gái bạn chứng minh được người bố của con bạn cố tình lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì em gái bạn là người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người bố đó. Về việc người chồng em gái bạn muốn chấm dứt quan hệ với vợ và các con thì theo quy định sau khi ly hôn thì quan hệ hôn nhân chấm dứt nhưng quan hệ cha con vẫn còn. Do đó, người chồng của em bạn vẫn phải có nghĩa vụ đối với những người con.

Về việc phân chia tài sản khi vợ chồng ly hôn:

Căn cứ theo quy định tại Điều 59 về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 (đã trích dẫn tại phần tư vấn trên).

Đối với trường hợp này của bạn, tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì việc giải quyết phân chia tài sản do vợ chồng tự thỏa thuân, nếu trong trường hợp không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng Tòa án sẽ tiến hành phân chia tài sản về nguyên tắc sẽ chia đôi tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng có tính đến các yếu tố: Hoàn cảnh của vợ, chồng; Lỗi của vợ, chồng; Công sức đóng góp tạo lập tài sản khối tài sản chung…

Trên đây là nội dung tư vấn về: Các vấn đề liên quan đến ly hôn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn ly hôn trực tuyến để được giải đáp.

Trân trọng.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí