Tuấn Luật sư

Hỏi về ly hôn nhưng tranh chấp về nợ riêng của vợ chồng

Luật sư tư vấn trường hợp hỏi về vấn đề tranh chấp về các khoản nợ riêng của vợ hoặc chồng khi ly hôn, tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng. Đất đang có tranh chấp có được chuyển nhượng hay không và các vấn đề pháp lý liên quan như sau:

1. Ly hôn nhưng tranh chấp về nợ riêng của vợ chồng giải quyết thế nào?

Câu hỏi đề nghị tư vấn: Kính gửi văn phòng luật sư Minh Gia! Tôi xin tư vấn giúp tôi về trường hợp anh trai tôi ly hôn nhưng còn vướng mắc vấn đề tài sản với chị dâu sau khi ly hôn, nội dung như sau:

Anh trai tôi ly hôn vợ nhưng còn dính đến rất nhiều khoản mà chị dâu tôi đi vay mà anh ấy không biết, nhiều khoản vô lý khó tin như: vay mua đồ sửa chữa xe khi xe đã bán trước đó, vay tiền để anh tôi nằm viện trong khi chẳng đau ốm gì, vay tiền mua xe ....

Hiện tại anh trai tôi rất hoang mang vì danh sách chị dâu tôi vay rất dài và theo gợi ý của tòa án thì nên tìm chứng cứ để bác bỏ những khoản ko hợp lý, nhiều như thế thì biết khi nào mới xong, người đi vay người thì đi chứng minh là ko đúng?

Theo thiển ý của tôi có nên làm 1 tờ đơn ghi người cho vay, người vay và cam đoan trước pháp luật những lời khai trong đơn là đúng sự thật vì có quá nhiều chủ nợ rất có khả năng khống ví như vay 10 thì nâng lên 50.

Chân thành cảm ơn và mong phúc đáp.

>> Luật sư tư vấn quy định về các khoản nợ khi giải quyết ly hôn, gọi: 1900.6169

Trả lời: Chào bạn! Xin cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

- Thứ nhất, về quyền có tài sản riêng

Tại Điều 43 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng, bao gồm: “tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”.

- Thứ hai, trách nhiệm của vợ, chồng đối với tài sản riêng

Tại Điều 27 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30”

Tuy nhiên, tại Khoản 1, Điều 30 quy định: “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”

Tại Điều 45 Luật Hôn nhân & Gia đình 2014 quy định về Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng:

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng”.

Theo thông tin bạn cung cấp, chị dâu bạn có nhiều khoản vay mà anh trai bạn không biết và bạn thấy có nhiều khoản vay vô lý. Những khoản vay như vậy có thể coi là những khoản vay không nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Vì vậy, anh trai bạn không có nghĩa vụ phải thanh toán những khoản vay đó.

>> Tư vấn thắc mắc giải quyết tranh chấp tài sản, gọi: 1900.6169

2. Tài sản vợ chồng khi ly hôn có tranh chấp giải quyết thế nào?

Câu hỏi tư vấn: Ba và mẹ tôi kết hôn với nhau vào năm 1991, hiện nay có 3 đứa con sinh năm 1992,1994,1999.  Năm 1992 ông nội tôi có mua cho ba mẹ tôi mảnh đất hiện tại đang ở và cất nhà (mảnh 1). 5 thang sau thì ông nội tôi mất,không có di chúc để lại nên tài sản ông nội tôi được chia đều cho các anh em. Và ba tôi nhận được mảnh 2 ( đất thổ cư), mảnh 3 (đất canh tác) với giấy sang tay do anh trai ba tôi viết để lại để thờ hương quả. Mảnh 1 làm sổ đỏ vào năm 2002 do mẹ tôi đứng tên. Mảnh 2,3 làm sổ đỏ vào năm 1999 do ba tôi đứng tên. Năm 2014 theo kiến nghị nhà nước nên làm lại sổ hồng. Đến 5.2015 thì ba mẹ tôi ly hôn.Nhưng vấn đề tài sản chưa giải quyết vì 2 bên chưa thống nhất ý kiến. Đến nay, 11.2015 thì được tin là ba tôi sẽ lấy vợ mới và bán mảnh 2. Và để mảnh 3 lại chia cho 3 chị em chúng tôi.Vậy, Luật sư cho tôi hỏi:

1. Đất đang trong thời gian tranh chấp như vậy, ba tôi có quyền được bán không?

2.Nếu ba tôi có ý định chia mảnh 3 cho 3 chị em chúng tôi thì hình thức là như thế nào, và nếu chỉ nói dựa trên lời nói thì có giá trị về sau không, khi thời gian sau này, ba tôi lập gia đình mới và để lại tài sản cho con riêng.

3.Nếu như bây giờ, mẹ tôi đi đến khởi kiện thì hình thức là như thế nào, và tài sản sau khi khởi kiện sẽ là như thế nào.

4.Gía trị toàn bộ tài sản hiện nay ước tính khoảng 3.5 tỷ.Vậy nếu mẹ tôi khởi kiện, tiền án phí sẽ là bao nhiêu?

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn, công ty tư vấn như sau:

Thứ nhất, đất đang tranh chấp có được bán hay không?

Điều 188 Luật đất đai 2013 có quy định về điều kiện được chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê… quyền sử dụng đất như sau:

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì hiện tại bố và mẹ bạn đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất nên bố bạn sẽ không được quyền chuyển nhượng mảnh đất đó cho người khác trước khi tranh chấp được giải quyết.

Thứ hai, nếu ba bạn muốn chia mảnh 3 cho ba chị em bạn thì có thể thực hiện dưới hình thức tặng cho quyền sử dụng đất Theo khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 các giao dịch về quyền sử dụng đất như chuyển nhượng, tặng cho thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất…phải được thể hiện bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực. Vì vậy, nếu chỉ thực hiện tặng cho quyền sử dụng đât bằng lời nói thì hợp đồng tặng cho không có hiệu lực pháp lý.

Thứ ba, khi ba và mẹ bạn không thể tự thỏa thuận được vấn đề chia tài sản chung thì khi nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án, ba mẹ bạn yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản chung. Trong hồ sơ có thể gửi kèm tất cả các giấy tờ, căn cứ chứng minh quyền tài sản.

Về vấn đề tài sản chung của vợ chồng, tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình có quy định như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật, đối với mảnh đất mẹ bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2002, mảnh đất này có nguồn gốc là do ông nội bạn mua cho hai vợ chồng trong thời kì hôn nhân nên sẽ thuộc sở hữu chung của cả hai vợ chồng dù chỉ có một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, nếu chia thì giá trị quyền sở hữu mảnh 1 sẽ bị chia đôi.

Về hai mảnh đất ba bạn đứng tên, do đất có nguồn gốc là tài sản được thừa kế riêng và đứng tên ba bạn, nếu giữa ba và mẹ bạn không có thỏa thuận nhập hai mảnh đất đó vào khối tài sản chung thì nó sẽ là tài sản riêng của ba bạn. Vì vậy nên mẹ bạn sẽ không được chia giá trị quyền sử dụng đất đó.

Thứ tư, về mức án phí khi chia tài sản. Trên web của công ty có bài viết tư vấn cụ thể về mức án phí. Bạn tham khảo tại bài viết sau:

>> Quy định về án phí và mức tính án phí

Bạn căn cứ vào mức án phí trong phần mức án phó sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch. Tùy thuộc vào giá trị tài sản tranh chấp mà mức án phí tương đương. Bạn tham khảo. 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ đến bộ phận tư vấn ly hôn trực tuyến để được giải đáp.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí