Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Hành vi ngoại tình có thể là căn cứ để ly hôn?

    • 24/05/2020
    • Ls Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Luật sư tư vấn về căn cứ ly hôn. Hành vi ngoại tình có bị xử phạt không và ngoại tình có thể là căn cứ để yêu cầu ly hôn không? Quy định của pháp luật về vấn đề này thế nào? Nội dung hỏi và trả lời tư vấn cụ thể như sau:

    1. Ngoại tình có thể là căn cứ để ly hôn và phân chia tài sản không?

    Câu hỏi đề nghị tư vấn: Kính thưa luật sư! Xin được luật sư tư vấn:Hai vợ chồng tôi đã gửi đơn ly hôn trong hoàn cảnh không còn hợp nhau, chồng tôi quan hệ với người con gái khác và đã có 1 cháu trai. Đất 2 vợ chồng đang ở do bố mẹ chồng tôi cho sau khi cưới nhau, hai vợ chồng đã xây nhà kiên cố, nhưng khi làm sổ đỏ cách đây 3 năm - chúng tôi cưới năm 2009, chồng tôi chỉ ghi tên chồng tôi trong sổ, không có tên tôi, chúng tôi đã có 2 cháu gái. Xin luật sư tư vấn việc phân chia tài sản của chúng tội như thế nào, chồng tôi có vi phạm luật hôn nhân gia đình, có bất lợi gì khi đã có quan hệ bất chính trong chia tài sản và được nuôi con. Trân trọng cảm ơn.

    >> Giải đáp thắc mắc về căn cứ giải quyết ly hôn, gọi: 1900.6169

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, Đối với yêu cầu hỗ trợ của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định tài sản chung vợ chồng. Cụ thể:

    Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

    1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

    2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

    3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

    Như vậy, đối với trường hợp của bạn thì căn nhà được xác định là tài sản chung vợ, chồng. Đối với quyền sử dụng đất thì phải chứng minh được thời điểm tặng cho (hợp đồng tặng cho thể hiện tặng cho chung vợ chồng) thì xác định là tài sản chung; trường hợp thời điểm hợp đồng tặng cho thể hiện cho chồng bạn thì đây là tài sản riêng của chồng và không có căn cứ để phân chia đối với quyền sử dụng đất. Theo đó, sau khi xác định được tài sản chung mà hai vợ chồng có thì được giải quyết như sau:

    Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

    1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

    Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

    2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

    a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

    4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

    Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

    5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    Tuy nhiên, theo như bạn cung cấp thì chồng bạn không chung thủy nên sẽ ảnh hưởng tới việc phân chia tài sản. Theo đó, Tòa sẽ xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bạn và con chưa thành niên. 

    >> Tư vấn giải quyết ly hôn và vấn đề liên quan, gọi: 1900.6169

    2. Truy cứu trách nhiệm về hành vi ngoại tình quy định thế nào?

    Câu hỏi: Nhờ Luật sư tư vấn giúp em. Em và vợ em đang chuẩn bị ly hôn, khoảng 2, 3 ngày nữa có quyết định, trước đây khi ra tòa em chưa biết nguyên nhân ly hôn là do vợ ngoại tình, chỉ nghĩ mâu thuẫn 2 vợ chồng nên không còn tình cảm mới ly hôn.

    Gần đây em phát hiện kết quả xét nghiệm ADN xác định huyết thống cha con lúc con gái em được 3 tháng tuổi (con gái nay đã hơn 10 tháng tuổi), từ đó em biết được vợ đã có quan hệ với người khác từ lúc chưa có con (cô ấy đã thừa nhận với em là có làm chuyện có lỗi với em), giờ em biết được người đàn ông đã ngoại tình với vợ là ai rồi nhưng không có bắt gian tại giường, em chỉ phát hiện tin nhắn người đó nói là nhớ vợ em thôi. Luật sư cho em hỏi, với những bằng chứng mà em có được, em có thể kiện vợ tội ngoại tình dẫn đến ly hôn hay không? Khi có quyết định ly hôn rồi có kiện được nữa không? và em có kiện được người đàn ông đã ngoại tình với vợ em không. Nhờ Luật sư tư vấn giúp. Chân thành cảm ơn!

    Trả lời: Chào bạn, Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Theo như bạn cho biết thì vợ của bạn đã có hành vi ngoại tình với người đàn ông kia ở thời điểm mà giữa bạn và vợ của bạn vẫn còn tồn tại quan hệ hôn nhân.

    Điểm c), khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cấm hành vi: "Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;"

    Theo đó thì hành vi của vợ bạn và người đàn ông kia đã vi phạm luật Hôn nhân và Gia đình.

    Trong trường hợp này, theo quy định tại điểm b, c; khoản 1, điều 48 nghị định 110/2013/NĐ-CP thì vợ bạn và người đàn ông kia sẽ bị xử phạt về hành chính:

    "Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

    c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ".

    Về truy cứu trách nhiệm hình sự:

    Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

    1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

    b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

    Hành vi chung sống với người khác như vợ chồng được hiểu là hành vi chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xómvà xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơquan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...

    Như vậy, trường hợp của bạn chỉ có những tin nhắn giữa vợ bạn với người khác thì không thể chứng minh được vợ bạn chung sống với người khác như vợ chồng.

    Trên đây là nội dung tư vấn về: Truy cứu trách nhiệm về hành vi ngoại tình. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến để được giải đáp.

    Hotline: 1900.6169