Nguyễn Đức Minh Hiếu

Giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như thế nào?

Bá em lấy chồng đã 25 năm, sinh được 3 người con gái, người con gái lớn đã đi lấy chồng, người thứ 2 đang học lớp 11 và người thứ 3 năm nay vào lớp 1. Bá em làm thợ may tại nhà, chồng của bá thì lao động tự do.

Nội dung yêu cầu tư vấn:  Kính gửi quý anh/ chị trong văn phòng luật! Trước hết cho em gửi lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe đến quý anh/chị và kính mong anh chị tư vấn cụ thể giúp em trường hợp sau:   Bá em lấy chồng đã 25 năm, sinh được 3 người con gái, người con gái lớn đã đi lấy chồng, người  thứ 2 đang học lớp 11 và người thứ 3 năm nay vào lớp 1. Bá em làm thợ may tại nhà, chồng của bá thì lao động tự do. Số tiền bá em kiếm được thì dùng để phục vụ mọi sinh hoạt hàng ngày trong gia đình và cho con cái học hành. Số tiền chồng bá kiếm được để tích trữ, kiến thiết, mua sắm các vật dụng có giá trị lớn trong gia đình và mua máy móc phục vụ cho công việc của chồng bá. Cách đây vài năm, bố chồng của bá em có cho vợ chồng bá em một mảnh đất, nhưng chưa chuyển quyền sở hữu. Sau đó, hai vợ chồng bá em có xây một căn nhà trên mảnh đất đó. Hiện tại, hai vợ chồng bá vẫn có một khoản nợ tiền xây nhà. Do hai vợ chồng bá em có mâu thuẫn không thể giải quyết nên đã quyết định ly hôn. Người con thứ 2 và thứ 3 sẽ ở với bá em. Như vậy, tài sản  khi ly hôn trong trường hợp của bá em sẽ được phân chia như thế nào?  Kính mong anh chị tư vấn cụ thể giúp em. Trân trọng cảm ơn quý anh/chị!

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Như vậy, để xác định tài sản của bá bạn được chia như thế nào cần xác định tài sản tài sản đang tranh chấp là tài sản chung vợ chồng hay là tài sản riêng. 

Nếu bố mẹ tặng cho bá bạn là tặng cho chung cả 2 vợ chồng bá, thì diện tích đất này được coi là tài sản chung vợ chồng (tài sản được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân). Nếu bố mẹ chỉ tặng cho riêng chồng của bá bạn, thì đây là tài sản riêng của chồng bá bạn. Khi ly hôn tài sản này không bị đưa ra để phân chia. 

Đối với căn nhà mà vợ chồng bá bạn xây dựng trong thời kỳ hôn nhân trên thửa đất được tặng cho, thì đây được coi là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên sẽ là tài sản chung vợ chồng. 

Khi xác định được những tài sản nào là tài sản chung vợ chồng thì khi ly hôn tài sản được chia theo nguyên tắc sau: 

Điều 59 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Như vậy, về nguyên tắc nếu đã là tài sản chung vợ chồng thì khi ly hôn tài sản sẽ được chia đối. Nếu vợ chồng bá bạn không thể tự thỏa thuận được về việc phân chia tài sản thì khi ly hôn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Song cũng cần lưu ý, nếu vợ chồng bá bạn có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về tài sản thì sẽ phải nộp tiền án phí theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp. 

Ngoài ra, “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình…” (Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình). Vấn đề này vợ chồng có thể tự thỏa thuận, nếu không tự thỏa thuận được thì Tòa án sẽ xem xét và căn cứ vào điều kiện kinh tế, đời sống của mỗi bên để có thể đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí