Ls Phùng Gái

Đơn yêu cầu ly hôn đơn phương và quyền giành quyền nuôi con sau ly hôn?

Kính chào Quý luật sư, Cháu có vấn đề muốn tư vấn về ly hôn đơn phương, mong luật sư tư vấn cho cháu: Bố mẹ cháu lấy nhau được hơn 20 năm, có 3 con. Năm 2011, bố mẹ cháu xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được. Bố cháu nghi ngờ vô căn cứ mẹ cháu đi ngoại tình, đánh đập, chửi bới mẹ cháu. Lúc đó có trưởng khu phố cũng như Hội phụ nữ can thiệp nhưng không có hiệu quả, tình trạng này kéo dài khoảng 1 năm.

Vì bố cháu nhiều lần đánh đập, chửi bới nên mẹ cháu về nhà ngoại ở, và đến đầu năm 2013 mẹ cháu lên Hà Nội làm và ở với cháu. Bố cháu lúc đó có gọi điện, ra nhà ngoại cháu chửi bới. Mẹ cháu có về nhà lại 1 lần vì nghĩ thương các con nhưng bố cháu luôn nghi ngờ vì không cải thiện được. Sau đó, mẹ cháu ở hẳn trên Hà Nội với cháu, và khoảng 1 tháng 1 lần về thăm các em cháu nhưng không cho bố cháu biết, vì bố cháu luôn cấm, và không cho các em cháu được liên lạc với mẹ cháu cũng như nhà ngoại. Nếu bố cháu phát hiện thì sẽ chửi bới và đuổi đi. Hiện tại, mẹ cháu muốn làm đơn ly hôn để được nuôi em thứ hai của cháu (6 tuổi) để cho em lên Hà Nội ở cùng mẹ con cháu.Cháu muốn được tư vấn về các vấn đề như sau

:- Thủ tục làm đơn ly hôn nếu không có giấy đăng kí kết hôn bản chính thì bản sao có được không.- Làm thế nào để mẹ cháu được giải quyết nuôi em cháu.

- Mẹ cháu không có ý định lấy bất cứ tài sản nào thì có được giải quyết đơn nhanh hơn không.- Bố cháu không đồng ý cho em cháu đi theo mẹ cháu thì làm thế nào và cần chuẩn bị những gì để có lợi nhất cho việc mẹ cháu giành quyền nuôi em cháu.

 - Khi mẹ cháu được nhận nuôi, có thể làm gì để từ bỏ nhận trợ cấp, và thăm nuôi của bố cháu đối với em

.- Bố cháu có biểu hiện của bệnh thần kinh hoang tưởng nhưng chưa có xét nghiệm xác thực thì điều này có lợi trong việc mẹ cháu giành quyền nuôi con không? quy định cụ thể ra sao mong được tư vấn, cháu xin cảm ơn

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về quyền yêu cầu ly hôn:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, trong trường hợp này nếu mẹ bạn thấy duy trì cuộc sống hôn nhân sẽ không có tiếng nói chung cũng như có thể ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe thì có quyền làm thủ tục đơn phương ly hôn.

- Hồ sơ, thủ tục ly hôn bao gồm:

+ Đơn đơn phương ly hôn;

+ Bản chính giấy đăng ký kết hôn. Trường hợp của bạn không có bản chính thì có thể cung cấp bản sao ( tuy nhiên cần trình bày rõ lý do không có bản chính đăng ký kết hôn);

+ Chứng minh thư nhân dân photo của hai vợ,chồng;

+ Bản sao giấy khai sinh của con( trường hợp có yêu cầu giành quyền nuôi con);

+ Giay tờ liên quan về tài sản(trường hợp có yêu cầu chia tài sản chung vợ, chồng).

- Thứ hai, về giành quyền nuôi con:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, đối với đứa trẻ 6 tuổi nếu mẹ muốn giành quyền nuôi thì phải chứng minh được các yếu tố về kinh tế, chỗ ở ổn định, đảm bảo đời sống tinh thần, thời gian chăm sóc cho con.....Đồng thời, như bạn cung cấp bố có dấu hiệu của bệnh thần kinh hoang tưởng nếu bạn có xác nhận rõ ràng từ phía cơ sở y tế và chứng minh được rằng việc bố bạn với tình trạng như vậy sẽ không thể đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho con được. Như vây, khả năng giành quyền nuôi dưỡng trẻ 6 tuổi sẽ cao hơn.  Trên cơ sở chứng cứ bạn cung cấp đó, Tòa sẽ xem xét để trao quyền nuôi dưỡng cho mẹ bạn.

-Thứ ba, quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

....

Như vậy, từ quy định trên trong trường hợp mẹ bạn giành được quyền nuôi con thì cũng không được phép dùng bất cứ biện pháp nào nhằm cản trở việc bố bạn thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Đơn yêu cầu ly hôn đơn phương và quyền giành quyền nuôi con sau ly hôn? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình  để được giải đáp.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí