Trần Phương Hà

Đề nghị tư vấn, giải đáp về chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng đối với trẻ em mồ côi cha

Nhờ tư vấn về chế độ trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng đối với trẻ em mồ côi theo NĐ 136/2013-NĐ-CP. tôi xin trình bày tóm tắt như sau: Anh H V kết hôn với chị N B trước năm 2005 và 2 người có với nhau 01 con gái sinh năm 2006 đặt tên là H T, năm 2013 a V và chị N B ly hôn

Theo Quyết định ly hôn của tòa án nhân dân cấp huyện phán quyết nhất trí cho a V nuôi con và nuôi dưỡng, chị B không phải chu cấp tiền nuôi dưỡng nhưng có quyền thăm non bất cứ lúc nào không ai được ngăn cản. sau ly hôn chị B kết hôn với người khác. Năm 2015 a V chết, cháu T ở ông, bà nội chăm sóc. Vậy nhờ luật sư tư vấn trong trường hợp này cháu T có được hưởng chế độ trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng theo Nghị Định 136 không, hoặc người đang nuôi dưỡng cháu T (cụ thể là Ông, bà) có được chế độ trợ cấp xã hội gì không. Cảm ơn văn phòng luật sư.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi nội dung đề nghị tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 5 Nghị định 136/2013 quy định về đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng như sau:

" 1. Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

b) Mồ côi cả cha và mẹ;

c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;

d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

1) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.”


Vậy đối với trường hợp trên thì cháu T không thuộc đối tượng hưởng chế độ trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng vì hiện nay cháu T vẫn còn có mẹ mặc dù đã ly hôn. Bởi, theo quy định tại Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân & Gia đình 2014:

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.”
 
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 NĐ 136/2013 thì người cao tuổi khi một thuộc trường hơp sau thì được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng:

- Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng.

- Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng.

- Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.

Vậy, bạn có thể khảm khảo để đổi chiếu với các điều kiện của ông, bà cháu T để rút ra kết luận.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí