Nguyễn Thị Hoài Thơ

Chia tài sản chung vợ chồng là quyền sử dụng đất.

Tôi có một số thắc mắc nhờ Luật Sư nhờ luật sư tư vấn giúp miễn phí qua email trường hợp tư vấn về tài sản chung là quyền sử dụng đất giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân và các vấn đề pháp lý liên quan như sau:

1) Tôi có vợ và 1con ( kết hôn năm 2010 ). Năm 2012 hai vợ chồng có mua 1 mảnh đất, quyền sử dụng đất do vợ tôi đứng tên. Nay nếu muốn bán mảnh đất đó thì có cần phải có chữ ký của tôi không. Hai vợ chồng có giấy kết hôn nhưng không đứng chung hộ khẩu.

2) Mua một mảnh đất khác xây nhà, tất cả do vợ tôi đúng tên thì đó có được coi là tài sản chung hay không, khi mua bán chuyển nhượng có cần phải có đủ chữ ký của cả hai vợ chồng không hay là có chữ ký của những người đúng chung hộ khẩu với người đứng tên chủ quyền sử dụng đất mới được? Xin cảm ơn.

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn, công ty tư vấn như sau:


Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Như vậy, tài sản hình thành sau thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất Khoản 4 Điều 98 Luật đất đai 2013 có hiệu lực từ ngày 01-01-2014 quy định:

“4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người”.

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật, với trường hợp của bạn, mảnh đất mua năm 2012 dù đứng tên một mình vợ bạn thì vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Khi tiến hành các giao dịch liên quan thì phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.Việc hai vợ chồng có chung hộ khẩu hay không không ảnh hướng đến vấn đề tài sản giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Với mảnh đất mua sau này, nếu sau thời điểm Luật đất đai 2013 có hiệu lực, để đứng tên một người thì phải có văn bản thỏa thuận của bên kia là tài sản riêng hoặc văn bản thỏa thuận của vợ chồng cho một người đứng tên. Như vậy, nếu giữa hai vợ chồng có thỏa thuận nhưng không phải bản thỏa thuận là tài sản riêng thì dù đứng tên một người vẫn được xác định là tài sản chung. Lúc này, nếu thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung vợ chồng thì phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Hộ khẩu chỉ ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất trong trường hợp đất được cấp cho hộ gia đình.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Chia tài sản chung vợ chồng là quyền sử dụng đất. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí