Hỏi đáp Hôn nhân Gia đình

  • Chia tài sản chung và giải quyết quyền nuôi con khi vợ chồng ly hôn.

    • 31/08/2018
    • Nông Hồng Nhung
    • Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như thế nào? Trường hợp giấy khai sinh của con không có tên cha thì người cha có được giành quyền nuôi con hay không? Luật Minh Gia tư vấn như sau:

    Nội dung tư vấn: Chào luật sư Luật Minh Gia!  E muốn luật sư tư vấn giúp e về việc ly hôn của 2 vợ chồng  em như sau: Em và chồng cưới nhau được 7 năm, có 1 bé trai 6 tuổi. Khi cưới chồng em cả 2 vợ chồng chỉ có chiếc xe sirius là mẹ tặng em lúc chưa cưới, sau khi cưới em đã mang bầu và đi tìm chồng em 9 tháng 10 ngày trong tiệm net, cuộc sống rất vất vả sau 2 năm em quyết định vào Sài Gòn đi làm, chồng em đi cùng, cuộc sống vất vả gửi con nhà ông bà nội và gửi tiền hàng tháng là 1.500.000 mặc dù bà không yêu cầu. Sau những năm vất vả khổ cực em đã là giáo viên mầm non, chồng em làm công và hay than vãn. Sau 1 thời gian đến tháng 6 năm 2017 em vay nhà chị ba tức chị gái số tiền là 20.000.000 đồng mua xe ba gác, và sau đó em đứng tên ngân hàng vay thêm 20.000.000 đồng mua xe Ablak, sau khi thu nhập ổn và cao so với mức thu nhập bình thường của 2 vợ chồng thì chồng em luôn khinh thường và hắt hủi em. Không thương con, luôn chửi bới, và trước đó 3 năm lúc con mới 2 tuổi chồng em đã đuổi em ra khỏi phòng, vì anh nói phòng anh trả tiền không phải em. Đến thời gian cuối năm 2017 vợ chồng bất đồng quan điểm quá mạnh chồng em đã tự xách đồ ra khỏi phòng và đem theo 2 chiếc xe. Khi vợ chồng chưa làm thủ tục ly hôn anh ấy đã có bồ và không phụ cấp cho con mấy tháng liền.

    Luật sư cho em hỏi bây giờ tài sản đó chia như thế nào?

    Giấy khai sinh của con trai em không có tên bố vì lúc trước chưa làm giấy kết hôn. Vậy em có được quyền nuôi con không?

    Bên chồng em ông bà đã đi Trung Quốc không còn ai ở việt nam. Gia đình em thuộc dạng bên ngành giáo dục và kinh tế ổn định.

    Em cảm ơn luật sư!

    Trả lời tư vấn:  Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Do thông tin chị cung cấp trong nội dung yêu cầu tư vấn chưa rõ là hiện nay vợ chồng đã đăng kí kết hôn hay chưa, nên sẽ có hai hướng giải quyết như sau:

    Trường hợp chị và chồng chưa đăng kí kết hôn thì không tồn tại quan hệ hôn nhân trước pháp luật nên không thể tiến hành ly hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, con sẽ được xác định là con riêng của chị (trừ trường hợp chồng chị tiến hành các thủ tục nhận con theo quy định của pháp luật). Và các giao dịch liên quan đến việc mua 2 chiếc xe sẽ xác định là giao dịch riêng của chị nên chị sẽ là chủ sở hữu hợp pháp của hai chiếc xe đó.

    Trường hợp chị và chồng đã tiến hành đăng kí kết hôn sau khi sinh con thì các vấn đề chị thắc mắc sẽ được giải quyết như sau:

    Thứ nhất, vấn đề đơn phương ly hôn:

    Theo Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị có quyền yêu cầu ly hôn. Và trong trường hợp này, nếu như cuộc sống chung của cả hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn, bất đồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị hoàn toàn có quyền đơn phương ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

    Khi tiến hành đơn phương ly hôn thì đơn khởi kiện của chị được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng chị có hộ khẩu thường trú theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

    Thứ hai, vấn đề tài sản:

    Đối với chiếc xe sirius sẽ được xác định là tài sản riêng của chị theo Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

    “1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”

    Chiếc xe được mẹ chị tặng cho riêng chị trước thời kì hôn nhân, do đó nó là tài sản riêng chủa chị; trừ trường hợp chị thỏa thuận với chồng về việc nhập chiếc xe vào tài sản chung vợ chồng.

    Còn chiếc xe ba gác và xe ablak sẽ được xác định là tài sản chung vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

    “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung...”

    Vậy, mặc dù chị tự vay tiền mua hai chiếc xe này, nhưng đây là tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân và để phục vụ mục đích của gia đình nên đây sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng chị.

    Trường hợp anh, chị ly hôn thì về nguyên tắc, tài sản này sẽ được chia đôi theo Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; tuy nhiên, nếu chị chứng minh được chị có công sức đóng góp lớn hơn trong việc tạo lập hai tài sản này thì có thể được xem xét chia phần lớn hơn tùy thuộc vào công sức đóng góp của chị theo điểm b Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

    “b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.”

    Thứ ba, vấn đề con cái:

    Trong trường hợp này, con chị được sinh ra trước thời kì hôn nhân và trên giấy khai sinh không có tên cha. Vì vậy, về mặt pháp lý, giữa con chị và chồng chị không được pháp luật thừa nhận là cha con theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

    “1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

    Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

    Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

    2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”

    Và cũng theo quy định trên đây, nếu chồng chị có văn bản thừa nhận đây là con chung của vợ chồng chị thì sẽ được xác định là con chung của vợ chồng. Theo đó, sẽ có hai trường hợp xảy ra như sau:

    Trường hợp trước đây chồng chị không thừa nhận là con chung thì bé trai sẽ được xác định là con riêng của chị; và nếu đã là con riêng thì quyền nuôi con luôn luôn thuộc về chị.

    Trường hợp vợ chồng chị thừa nhận đây là con chung của vợ chồng chị thì giải quyết như sau:

    Nếu tại thời điểm giải quyết ly hôn, con đã đủ 7 tuổi thì xem xét nguyện vọng của con theo Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 theo Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

    Trường hợp chị muốn giành quyền nuôi con thì cần nêu rõ yêu cầu trong đơn khởi kiện rằng chị có nguyện vọng nuôi con và đưa ra các bằng chứng chứng minh cho việc chị có đủ điều kiện nuôi con (chứng minh bằng ngành nghề, thu nhập của chị; các bằng chứng liên quan đến việc bên nội không còn ai để chăm sóc cháu nữa hoặc chồng chị không có thu nhập, không yêu thương, chăm sóc con cái...).

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

    Trân trọng.
    CV tư vấn: Hồng Nhung - Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169