1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Hình sự
  • Tư vấn xử lý trường hợp tái phạm hành vi trộm cắp tài sản

    • 05/03/2019
    • Ls Vũ Đức Thịnh
    • Luật sư tư vấn miễn phí trường hợp tái phạm trộm hành vi cắp tài sản khi đã phạm tội này 1 lần, mức phạt là 9 tháng tù giam thì xử lý thế nào?


    Nội dung đề nghị tư vấn:

    Chào luật sư, Chồng tôi đã trộm một chiếc xe suzuki sport nhưng chưa tiêu thụ được vì bị bắt quả tang. Vào năm 2008, chồng tôi cũng đã phạm tội này 1 lần, mức phạt là 9 tháng tù giam. Ba chồng tôi có công với cách mạng nhưng mất cách đây 1 năm, chồng tôi là trụ cột chính của gia đình, mẹ chồng thì già yếu, tôi đang mang thai  được 2 tuần, gia đình tôi cũng đã đến bồi thường cho người bị hại, nhờ họ viết đơn bãi nại. Chồng tôi đi làm chuyện dại dột vì bị bạn bè dụ dỗ vào con đường cờ bạc nên nợ nần. Xin hỏi luật sư chồng tôi bị án thuộc khoản mấy, và liệu có được hưởng án treo không? Mong luật sư tư vấn, tôi xin cảm ơn !
     

    Tư vấn xử lý trường hợp tái phạm hành vi trộm cắp tài sản

    Tư vấn xử lý trường hợp tái phạm hành vi trộm cắp tài sản
     

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

    Tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội trộm cắp tài sản như sau:

    Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

    1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

    đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

    đ) Hành hung để tẩu thoát;

    e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

    g) Tái phạm nguy hiểm.


    Thứ nhất, xác định khung hình phạt
     

    Do bạn không cung cấp giá trị cụ thể của tài sản bị trộm cắp là bao nhiêu, nhưng với một chiếc xe máy, thông thường giá trị phải trên 2 triệu đồng. Do vậy, hành vi của chồng chị có thể đã cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định đã trích dẫn ở trên. Việc xác định hình phạt với người này phụ thuộc vào giá trị cụ thể của chiếc xe. Nếu giá trị hiện tại của chiếc xe dưới 50 triệu, khung hình phạt được áp dụng là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp chiếc xe có giá từ 50 triệu – 200 triệu đồng, hình phạt đặt ra là phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

    Vấn đề án tích của chồng chị sẽ được coi là căn cứ xem xét có cấu thành tình tiết tăng nặng “tái phạm, tái phạm nguy hiểm” nếu án tích này chưa được xóa. Điều 70 – Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về đương nhiên xóa án tích như sau:

    Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

    1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

    2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

    a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

    b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

    c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

    d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

    Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cm hành nghề hoặc làm công việc nht định, tước một số quyn công dân mà thời hạn phải chp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

    Năm 2008, chồng bạn phạm tội trộm cắp tài sản và bị kết án 9 tháng tù giam, không phạm tội mới trong thời hạn tính đến nay (2018) đãmười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án; đối chiếu với quy định nêu trên thì chồng bạn đủ điều kiện về thời gian thử thách xóa án tích. Tuy nhiên, vấn đề án phí, hình phạt bổ sung, trách nhiệm bồi thường dân sự trong bản án chúng tôi không thể xác định được do bạn không cung cấp thông tin. Trường hợp đáp ứng được những điều kiện trên, án tích của chồng bạn sẽ được xóa và được coi là người không có án tích. Việc chồng bạn phạm tội trước đây sẽ không có ảnh hưởng lớn đến quyết định hình phạt trong vụ án này.

    Trường hợp án tích chưa được xóa do không đảm bảo đủ điều kiện tại Điều 70 như đã phân tích, cần xem xét về tình tiết tăng nặng tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm nếu có đủ điều kiện tại Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định như sau:

    Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

    1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

    2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

    a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

    b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.


    Trong quá trình giải quyết vụ án, chồng bạn đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, đây được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Nếu chồng bạn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thì cũng được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    Khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 : Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Bạn có đề cập ba chồng bạn là người có công với cách mạng, chồng bạn là trụ cột chính của gia đình, mẹ chồng già yếu, bạn đang mang thai; các tình tiết này sẽ được Tòa án xem xét và quyết định có được coi là tình tiết giảm nhẹ hay không.

    Do không thể xác định cụ thể khung hình phạt đối với chồng bạn nên chúng tôi không thể kết luận chồng bạn có thể được cho hưởng án treo hay không. Bạn có thể tham khảo điều kiện được hưởng án treo theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

    Điều 65. Án treo

    1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Mặt khác, với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chồng bạn có thể sẽ được giảm nhẹ hình phạt. Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

     

    Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

    1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

    2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

    3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

     

    Trân trọng!

    Phòng luật sư tư vấn - Công ty Luật Minh Gia

Bài viết nổi bật

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ miễn phí

 1900 6169