Trần Tuấn Hùng

Tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác

Luật sư tư vấn về trường hợp ký bảo lãnh cho người khác vay nợ, nhưng dùng thẻ vay không đúng thì có vi phạm gì không? Cụ thể như sau:

 

Luật sư cho e hỏi một vấn đề về trường hợp như sau: E có giới thiệu và ký bảo lãnh cho một người bạn vay tiền ở chổ 2 vợ chồng e quen biết nhưng lúc e dẫn người bạn đi nhà 2 vợ chồng cho vay tiền để vay thì người bạn e mới đem thẻ vay ra đưa cho 2 vợ chồng cho vay tiền e mới phát hiện là thẻ vay không phải là thẻ của người bạn e mà là thẻ của người khác nhưng người đó e vẫn biết. nhưng vì bạn e đang gặp khó khăn và năn nỉ e dùm ký bảo lãnh cho nó vì nó đang cần tiền gấp để trị bệnh cho con nó nên e đã ký bảo lãnh cho nó vì nó cũng hứa với e là cuối tháng nó chuộc thẻ lại nên e đã ký bảo lãnh cho nó và trong lúc nó gặp chủ cho vay tiền hai bên tự thỏa thuận với nhau e chỉ là người giới thiệu bảo lãnh cho nó, chủ cho vay trong lúc nhận thẻ và giấy chứng minh nhân dân không để ý coi kỹ mặt người đi vay và đã đồng ý đưa tiền cho bạn e vay với số tiền là 14.000.000 đồng lãi suất 5%/tháng và kêu người bạn e phải ghi giấy vay nợ và e phải ký bảo lãnh cho bạn e nếu bạn e không có khả năng trả thì e sẽ trả thay cho bạn e nếu e không ký bảo lãnh thì chủ cho vay sẽ không cho bạn e mượn tiền e cũng hơi do dự vì thẻ vay không phải của nó mà là của người khác vì e thấy nó khó khăn và đang cần tiền gấp để trị bệnh cho con nó nên e đã ký bảo lãnh cho nó. lãi mối tháng nó vẫn đóng đủ cho chủ vay và không bị chậm trể nhưng bây giờ chủ cho vay đã biết thẻ vay đó không phải là của người bạn e mà là của người khác và chủ cho vay đòi thưa e ra công an về tội lừa đảo vì e ký bảo lãnh cho bạn e nhưng tiền bạn e vẫn đóng đủ và không chậm trể ngày đóng và không thiếu kỳ nào cả. bạn e nó cũng lại nhà chủ vay xin đừng làm lớn chuyện nhưng chủ vay vẫn đòi thưa e. vậy xin hỏi Luật sư nếu họ thưa e thì e có bị gì không?e mong Luật sư trả lời cho e biết sớm vì bửa nay họ đòi gửi đơn lên công an huyện để giải quyết. e xin cảm ơn Luật sư rất nhiều!

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi tư vấn về vấn đề của bạn như sau:

 

Căn cứ Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

 

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

 

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

 

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

...”

 

Như vậy, chỉ khi thực hiện hành vi gian dối để với mục đích chiếm đoạt luôn 14 triệu đồng đó mà không có ý định trả thì mới cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn hành vi của bạn là dùng thẻ vay nợ của người khác (không phải của người bạn của bạn) và khi cho mượn bạn đã không trình bày rõ thẻ không phải là của người bạn mình mà là của người khác. Tuy nhiên, bạn không có mục đích chiếm đoạt số tiền đó của chủ nợ, người vay vẫn trả nợ không có dấu hiệu chiếm đoạt nên hành vi của bạn không cấu thành tội. Chỉ khi người vay không trả được hoặc không có ý định trả thì vì bạn ký bảo lãnh thì bạn phải trả số tiền đó cho chủ nợ theo Điều 335, Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

 

“1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

 

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.”

 

Trân trọng!
CV tư vấn: Nông Diệp- Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí