Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Tư vấn về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi đứng tên mua hộ xe

    • 27/03/2019
    • Bùi Hoài My
    • Cho tôi hỏi trong trường hợp này bây giờ tôi nên xử sự như thế nào, tôi có thể tố thầy đó tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản người khác hay không? Nếu có thì các bước tôi phải thực hiên là như thế nào?


    Em trai tôi có đứng tên mua giúp bạn của nó là 1 thầy giáo 1 chiếc xe máy exciter 150 màu xanh, lúc mua thầy giáo có bảo với em trai tôi là nhờ đứng tên giúp vì thầy mới mua 1 xe trả góp chưa hết thời hạn, em tôi nghĩ tin tưởng nên đồng ý, khi làm thủ tục mua xe thầy bảo với em trai tôi ghi tên thầy trong hợp đồng là anh rể, ghi tên tôi là chị gái kèm theo số điện thoại của vợ anh ấy. Khi mua xe thầy đó trả số tiền ban đầu là 20 triệu đồng, 1 tháng phải đóng 2.019.000 nghìn đồng, trong 24 tháng như vậy tổng số tiền của cái xe đó là 68.456.000 đồng. Tháng đầu tiên sau khi mua xe thầy đó có đóng tiền đúng hạn, tháng thứ 2 thì đưa tiền nhờ em tôi đóng, đến tháng thứ 3 thầy đó không đóng tiền, em trai tôi có nhận được thông báo của ngân hàng là yêu cầu thanh toán nếu không sẽ chuyển thành nợ xấu. Khi đó tôi và em trai tôi có đến chỗ ở của thầy giáo đó nhưng thầy không ở nhà, chúng tôi có gọi điện thì nhận được câu trả lời là đang đi công tác ở Hà Nội khi nào về sẽ đóng đầy đủ. Thời gian này thầy cũng có gọi điện nhời em tôi làm thủ tục sang tên chiếc xe nhưng em tôi có trả lời rằng khi nào thanh toán hết hợp đồng em tôi sẽ làm thủ tục giúp. Vì tin tưởng nên chúng tôi không gọi thêm, sau đó em tôi bị mất điện thoại và làm việc ở nhà không liên lạc với thầy đó nữa. Gần đây nhân viên ngân hàng có về nhà thông báo đã 3 tháng không thanh toán hợp đồng và số tiền đó đã chuyển thành nợ xấu, tôi có gọi điện cho thầy đó và nhận được câu trả lời rằng xe là em tôi mua nên em tôi phải trả tiền.

    Cho tôi hỏi trong trường hợp này bây giờ tôi nên xử sự như thế nào, tôi có thể tố thầy đó tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản người khác hay không? Nếu có thì các bước tôi phải thực hiên là như thế nào?
     

    Trả lời. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia. Trường hợp này chúng tôi tư vấn cho bạn như sau.

    Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

    “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    ...”

    Theo quy định trên thì một người bị cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu người đó có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự như sau:

    “Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

    1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

    Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

    2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

    Như vậy, việc bạn thầy giáo đó nhờ em bạn đứng tên mua xe có thể được coi là một giao dịch dân sự bằng miệng giữa hai bên với nhau.

    Theo thông tin bạn cung cấp thì người đó nhờ em bạn đứng tên mua giúp xe máy trả góp nhưng sau đó thầy giáo chỉ trả 2 tháng còn đến tháng thứ 3 thì thầy đó không trả. Em bạn gọi điện nhưng thầy đó trốn tránh và không chịu đóng.

    Như vậy, bạn cần phải xem xét lại hành vi của thầy giáo đó đã có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay chưa? Nếu đã có dấu hiệu tội phạm thì em bạn có thể tố giác hành vi phạm tội của thầy giáo đến cơ quan điều tra công an quận/huyện nơi em bạn hoặc người đó cư trú theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

    “Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

    1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

    2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

    3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

    4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

    5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.”

    Trường hợp không có dấu hiệu tội phạm thì em bạn có thể khởi kiện ra Tòa án dân sự yêu cầu người thầy tiếp tục thực hiện giao dịch đã giao kết ban đầu. Tuy nhiên, nếu khởi kiện dân sự, bạn cần phải đưa ra các bằng chứng chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

    “Điều 91. Nghĩa vụ chứng minh

    1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:

    a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

    b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.

    Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;

    c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.

    ...”

    Trân trọng!

    Phòng luật sư tư vấn – Công ty Luật Minh Gia.

    Hotline: 1900.6169