Ls Phùng Gái

Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích và quyền bảo lĩnh ?

Câu hỏi tư vấn: Khoảng nửa tháng trước anh trai cháu đến nhà một người quen nhậu, cùng là chỗ làm của anh cháu, lúc nhậu anh cháu có xảy ra mâu thuẩn với một người nhậu chung, sau đó ngươi nhậu chung đó và anh em của người đó đòi đanh anh của cháu và được mọi người can ngăn ,khi đó anh của cháu đang làm thợ hàn sắt thuê cho chị dâu thứ hai và anh hai của cháu nên phải ngủ lại chòi gàn chỗ nhậu vài mét để giử đồ cho chị dâu và anh hai.

Nhưng vì lúc nhậu xảy ra mâu thuẫn và bị người nhậu chung dọa đánh nên anh của cháu không dám ngủ lại đó và anh cháu về nhà của anh hai và chị dâu cách khoảng vài trăm mét để mách với chị dâu va anh hai người ta ăn hiếp và dọa đánh, nhưng vì những người dọa đánh anh cháu có họ hàng với chị dâu nên chị dâu nói mầy cũng làm sao người ta mới đòi đánh mầy, anh cháu tức quá nên mới kêu chị dâu tính tiền công không làm cho chị dâu và anh hai nửa, sao đó chị dâu lấy tiền đưa cho anh cháu và tát vào mặt anh cháu, anh cháu mới đi bộ về nhà khoảng 4-5km khóc và kể với mẹ. Hôm sau anh cháu quay lại chỗ nhậu cũng như chỗ làm của anh cháu để lấy đồ về không làm cho chị dâu va anh hai nữa thì anh cháu thấy người đòi dọa đánh mình và vì người này đòi đánh mình, mình mách chị dâu mà chị dâu lại tát lại mình nên anh cháu túm một thanh sắt ở gần người đó đánh vào đầu người đó làm người đó chấn thương sọ. Anh cháu giờ đang bị tạm giam, còn người bị anh cháu đánh thì đã xuất viện cách hôm xảy ra vụ viêc 5-6 ngày, nhưng gia đình cháu cũng chưa biết người đó bị thương bao nhiêu phần trăm và công an báo với gia đình cháu tiền thuốc men người đó đến hôm nay khoảng 30 triệu đồng. Nhưng gia đình cháu hết sức khó khăn cha mẹ cháu đã ly hôn các anh chị khác đi làm xa và có gia đình riêng, gia đinh cháu giờ chỉ có anh cháu và mẹ và một thằng cháu mồ coi cha và cháu thì đang học nghề ở xa. Anh cháu là thu nhập chính trong gia đình nhưng giờ anh cháu phạm tội nên bị băt gia đình cháu không có tiền lo cho người bị hại.  

Xin cho cháu hỏi vì gia đình cháu không có điều kiện củng không vây mượn ai được thì số tiền thuốc men bồi thường cho người bị hại. Bên cháu có thể xin trả từ từ được không?. Xin cho cháu hỏi qua tất cả diển biến trên có tình tiếc nào giúp anh cháu giảm nhẹ tội được không? Và cho cháu hỏi do người ta đòi đánh anh cháu và anh cháu mét chị dâu mà chị dâu tát lại vậy anh cháu có được rơi vào điêu 105 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh không?.

Trường hợp, nếu gia đình cháu không đủ tiền bồi thường cho bị hại thì anh cháu phải chịu hình phạt ra sao? Cháu hoăc ai hay làm thế nào có thể bảo lảnh anh của cháu ra đến ngày xét xử đươc không? Thời hạn xét xử là bao lâu.

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn đưa ra thì lý do anh bạn đánh người khác dẫn tới thương tích cho họ chỉ dựa vào việc bị dọa đánh và bị tát không có đủ cơ sở để xác định là thực hiện hành vi trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh được. Do vậy, hành vi anh trai bạn có thể xác định là cố ý gây thương tích. Tuy nhiên, do bạn cũng không xác định được tỉ lệ tổn thương cơ thể của họ là bao nhiêu phần nên không thể xác định có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, nhưng căn cứ vào quy định pháp luật thì trong trường hợp anh trai bạn đã dùng hung khí để đánh người (thanh sắt) dẫn tới thương tích cho họ dưới 11% thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;...”

-Thứ hai, liên quan tới tình tiết giảm nhẹ.

Trong trường hợp anh trai bạn thực hiện hành vi là một phần do lỗi của người bị hại. Đồng thời, sau khi thực hiện hành vi xong đã thành thật khai báo, khắc phục hậu quả. Cụ thể, thuộc một trong các tình tiết giảm nhẹ sau theo Điều 51, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 thì Tòa án có thể xem xét giảm nhẹ hình phạt:

“Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

...”

- Thứ ba, liên quan tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 quy định xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:

“Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Theo đó, anh bạn sẽ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Trong trường hợp không có khả năng bồi thường vào thời điểm hiện tại thì có thể thỏa thuận lùi hoặc thanh toán tiền bồi thường dần. Đồng thời, việc chậm thanh toán bồi thường thiệt hại không thuộc tình tiết tăng nặng theo quy định của pháp luật.

-Thứ tư, liên quan tới bão lĩnh được quy định tại Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:

“Điều 121. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, nếu bạn đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì có thể được xem xét áp dụng biện pháp bảo lĩnh.

Trân trọng!

CV P.Gái - Công ty Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí