Ls Phùng Gái

Truy cứu trách nhiệm đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản?

Câu hỏi tư vấn: Vừa qua quan hệ của anh rể tôi có quen biết một người bạn (Anh N), và người này giới thiệu cho tôi một người bạn khác (Anh Q), và giới thiệu có thể giúp tôi tìm được việc trong cơ quan Nhà Nước. Sau khi thỏa thuận tôi có nhờ anh N và anh Q giúp xin việc với số tiền 150.000.000đ.

Tôi đã đặt cọc cho anh Q số tiền 50.000.000 (có giấy biên nhận và không ghi nội dung là tiền xin việc). Sau thời hạn 03 tháng, anh Q đã giúp tôi được gọi vào tại cơ quan Nhà nước đó, nhưng vị trí khác so với thỏa thuận (nhân viên bảo vệ, thỏa thuận là nhân viên kỹ thuật). Sau đó, tôi và anh Q, anh N có gặp nhau để bàn bạc, hai anh bảo sẽ giảm chi phí xin việc xuống còn một nữa và mời tôi đi làm. Tôi không đồng ý và đã bảo hai anh cho tôi xin lại tiền. Hai anh đã thống nhất trả tôi 2/3 số tiền 50 triệu đồng. Sau đó, quan hệ của anh rể tôi và anh N xấu đi và hai người không gặp nhau nữa. Một thời gian sau, anh Q gọi điện và bảo có khả năng xin việc vào một cơ quan khác với vị trí tốt hơn, cũng không yêu cầu đòi thêm tiền gì. Tôi thời gian này đã đi làm cho một đơn vị tư nhân và không có nhu cầu xin việc nữa thông báo với anh Q như vậy thì anh Q yêu cầu các bên gặp mặt để giải quyết vì anh Q đã trả tiền cho tôi thông qua anh N (có giấy biên nhận), đến thời điểm này anh N đã bỏ trốn. Vậy xin hỏi anh Q hay anh N đã vi phạm pháp luật? và Tôi nên làm như thế nào để có thể lấy lại được tiền của mình? Xin trân trọng cảm ơn các Luật sư!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Trường hợp của bạn để xét vấn đề truy cứu trách nhiệm của anh Q và N thì sẽ phải chia ra làm hai trường hợp riêng biệt.

+Thứ nhất, quan hệ giữa bạn và anh Q.

Theo thông tin đưa ra thì bạn được N giới thiệu qua Q và được Q giới thiệu xin việc làm trong cơ quan nhà nước. Bạn đã làm hợp đồng đặt cọc số tiền cho Q thông qua biên lai nhận tiền( 50.000.000 đồng). Theo thỏa thuận Q đã xin được việc nhưng không phải công việc theo thỏa thuận của hai nên bạn không xin việc nữa. Theo đó, trường hợp này không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của Q đượ vì không có căn cứ, cơ sở chứng minh hành vi lừa đảo hay hành vi nhận hối lộ mà chỉ liên quan tới giao dịch dân sự thông thường giữa hai bên. Tức liên quan tới nghĩa vụ khi không thực hiện đúng theo cam kết. Cụ thể, Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 quy định về đặt cọc như sau:

  

“1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Như vậy, giữa bạn và anh Q chỉ tồn tại hợp đồng đặt cọc nên khi Q không thực hiện được thì bạn có quyền yêu cầu trả lại tiền. Việc Q đã nói chuyển tiền cho anh N để trả cho bạn nhưng bạn chưa nhận được tiền mà trên biên lai nhận tiền vẫn thể hiện rõ người ký xác nhận là Q. Do đó, trường hợp này bạn vẫn có cơ sở buộc anh Q thực hiện nghĩa vụ trả lại số tiền cho mình. Trường hợp, Q không trả (lý do đã đưa cho N) thì có quyền làm đơn khởi kiện kiện đòi tài sản.

+Thứ hai, quan hệ giữa anh Q và N

Thông tin bạn đưa Q vì tin tưởng nên đã giao tiền nhận cho N để N trả lại số tiền cho bạn nhưng sau đó N không thực hiện nghĩa vụ của mình mà bỏ trốn đi nơi khác. Theo đó, anh Q có quyền làm đơn tố cáo N đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của mình theo quy định của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Trân trọng!

CV P.Gái - Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí