Tuấn Luật sư

Quốc kỳ là gì? Xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy Việt Nam bị tội gì?

Quốc kỳ (lá cờ Việt Nam), Quốc huy, Quốc ca là biểu tượng thiêng liêng, tự hào của quốc gia, mọi công dân đều có nghĩa vụ giữ gìn, tôn trọng quốc kỳ, các hành vi mang tính chất xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca của quốc gia sẽ bị xử lý theo quy định. Cụ thể việc xử lý hành vi này được phân tích cụ thể trong nội dung dưới đây, quý khách có thể tham khảo:

Câu hỏi:

Luật sư cho tôi hỏi Quốc kỳ quy định thế nào? Hành vi xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca Việt Nam như dốt, xé, dẫm đạp, phá hỏng quốc kỳ... hoặc có các hành vi mang tính nhạo báng, xúc phạm, sỉ nhục biểu tượng thiêng liêng của quốc gia, dân tộc thì có vi phạm không và nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Cảm ơn anh đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với trường hợp anh đang thắc mắc Luật Minh Gia tư vấn như sau:

1. Quy định pháp luật về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca Việt Nam

Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca là một trong những biểu tượng thiêng liêng của tổ quốc, là niềm tự hào của quốc gia, dân tộc.

Theo quy định cụ thể tại Điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 như sau:

- Quy định về Quốc kỳ

Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.”

- Quy định về Quốc huy

"Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

- Quy định về Quốc ca

"Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến quân ca."

Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca có tính chất biểu trưng cho tổ quốc, cho dân tộc nên mọi người dân đều có nghĩa vụ tôn trọng. Mọi hành vi thể hiện thông qua lời nói, hành động biểu hiện sự không tôn trọng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca như đốt, xé, dẫm đạp, vò nát,... đều được xác định là hành vi vi phạm, nếu hành vi này bị phát hiện thì người thực hiện hành vi có thể sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Xúc phạm Quốc kỳ, Quốc hủy, Quốc ca bị xử lý thế nào?

Như đã phân tích trên, mọi hành vi không tôn trọng, xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca của quốc gia đều được xác định hành vi vi phạm, hành vi này có thể bị xử lý về Tội xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca theo quy định tại Điều 351 Bộ luật hình sự 2015. Theo đó Điều 351 quy định như sau:

“Người nào cố ý xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Theo đó, một người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đủ các yếu tố cấu thành tội xúc phạm quốc kỳ, quốc huy, quốc ca. Các yếu tố cấu thành bao gồm:

- Khách thể:

Tội phạm này xâm phạm đến biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc. Đối tượng phạm tội là Quốc kỳ, Quốc huy của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khách quan:

Tội phạm này thể hiện ở chỗ viết, vẽ những nội dung không lành mạnh, có tính sỉ nhục hoặc xé rách, đâm thủng, giẫm đạp, vò nát cờ Tổ quốc hay có hành vi có tính chất nhạo báng, phá hỏng Quốc kỳ, Quốc huy hoặc bằng những thủ đoạn khác làm biến dạng Quốc kỳ, Quốc huy. 

Tội phạm hoàn thành khi có một trong những hành vi kể trên mà không cần dấu hiệu hậu quả. 

Chủ quan:

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Nếu hành vi được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp hay vô ý thì không cấu thành tội phạm. 

Chủ thể: 

Là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định.

Hình phạt

Người nào cố ý xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Như vậy, với những nội dung đã phân tích trên có thể thấy hành vi anh liệt kê như đốt, xé, dẫm đạp, phả hỏng,... đều mang tính chất cố ý thực hiện và được xác định là hành vi vi phạm, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 351 Bộ luật hình sự 2015 về tội xúc phạm quốc kỳ.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 900.6169

------

3. Tham khảo tình huống luật sư tư vấn về luật hình sự

- Có bị tăng nặng khi chưa được xóa án tích đã phạm tội?

Câu hỏi:

Chào luật sư: Người nhà tôi trước đây có bị đi tù về tội làm giả con dấu đã chấp hành xong hình phạt tù vào năm 200x, nhưng vẫn còn nợ tiền án phí. Đến 201x chồng tôi bị tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và bị khởi tố vào Điều 139 khoản 2 (từ 2 đến 7 năm), Hiện tại gia đình đã khắc phục gần đủ.

Luật sư tư vấn giùm trong quá trình điều tra gia đình đã khắc phục hậu quả và đã thành khẩn khai báo thì có được giảm nhẹ không? Và án tích cũ có phải là tình tiết tăng nặng không? Điều 47 (QĐ phạt nhẹ hơn quy định) chồng tôi có được phạt nhẹ hơn quy định không? Rất mong sớm nhận được hồi âm. Chân thành cảm ơn.

Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ theo Bộ luật hình sự quy định như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

..."

Như vậy, trong trường hợp này chỉ được xác định tăng nặng khi có tình tiết tái phạm nguy hiểm, mà tái phạm nguy hiểm được hiểu như sau:

Điều 49. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý.

Như vậy, nếu tội làm giả con dấu tài liệu trước dó là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng thì chồng chị không bị tình tiết tăng nặng theo quy định; bên cạnh đó, chồng chị có thể được hưởng tình tiết giảm nhẹ về thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và khắc phục hậu quả, gia đình có thể làm đơn xin giảm nhẹ với các tình tiết trong trường hợp này.

Bạn tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình!

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí