LS Vy Huyền

Tội vu khống theo luật hình sự

Trong thời đại mạng xã hội phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngày càng có nhiều người lợi dụng tính lan truyền của mạng xã hội để thực hiện hành vi bị đặt, đăng tải các nội dung không phù hợp gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Hành vi này tùy mức độ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý về hình sự.

1. Luật sư tư vấn pháp luật hình sự

Hành vi vu khống theo quy định của pháp luật hình sự được hiểu là hành vi bịa đặt, loan truyền những điều mà người loan truyền biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp do chưa hiểu rõ các quy định của pháp luật liên quan đến hành vi vu khống dẫn đến thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích của người khác.

Nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu các quy định của pháp luật về hành vi vu khống và các hình thức xử lý đối với hành vi vu khống bạn hãy liên hệ với công ty Luật Minh Gia thông qua các hình thức như gửi Email tư vấn hoặc gọi tới số 1900.6169 để được bộ phận tư vấn pháp luật lao động của chúng tôi hỗ trợ giải đáp các thắc mắc của mình.

2. Tội vu khống theo quy định của pháp luật hình sự

Nội dung cần tư vấn:

Xin chào luật sư:

Tôi là kế toán 1 doanh nghiệp nước ngoài. Hiện tôi bị một đồng nghiệp gửi tin nhắn tới lãnh đạo cơ quan bịa đặt là tôi câu kết với cơ quan thuế cùng xử lý phạt cơ quan tôi để ăn chia tiền và thu phí mỗi khi họ muốn đến cơ quan tôi kiểm tra. Bằng chứng tôi có được là tin nhắn gửi tới điện thoại từ lãnh đạo, và số điện thọai đó đồng nghiệp tôi đã từng sử dụng để liên lạc với các đồng nghiệp khác của tôi. Các đồng nghiệp khác vẫn còn lưu số điện thoại đó và có xác nhận đã nhiều lần liên lạc với người đó bằng số thuê bao trên. Vậy với những hành vi và bằng chứng tôi có được trên tôi có thể tố cáo người đó tội vu khống bôi nhọ danh dự nhân phẩm của tôi được hay không? Và thủ tục ra sao? Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội vu khống như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

…”

Từ những thông tin bạn cung cấp, hành vi của đồng nghiệp bạn đã có đủ các yếu tố cấu thành tội vu khống, bao gồm có hành vi tung tin bịa đặt và mục đích là xúc phạm danh dự và xâm hại đến quyền lợi của bạn. Bạn có quyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Tuy nhiên về chứng cứ bạn có, bạn mới chỉ có số điện thoại và tin nhắn lãnh đạo gửi cho số điện thoại của đồng nghiệp kia. Đây thuộc vào dạng thư điện tửvà bạn cần phải chứng minh nguồn gốc của tin nhắn này để chứng cứ có giá trị pháp lý.

Về thủ tục, khi phát hiện được các hành vi phạm tội trên, bạn có quyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”

Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thể hiện dưới hình thức đơn hoặc trình bày trực tiếp. Đơn yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Trường hợp yêu cầu khởi tố được trình bày trực tiếp thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát lập biên bản ghi rõ yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Biên bản do viện kiểm sát lập được chuyển ngay cho cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án. Yêu cầu khởi tố là điều kiện bắt buộc, do đó trong những trường hợp phạm tội nêu trên, khởi tố khi không có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của họ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
 

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí