Nguyễn Văn Cảnh

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật

Năm ngoái qua quen biết tôi được giới thiệu người A có thể xin việc giùm, tôi đã đưa 90 triệu có tờ giấy viết tay rằng A vay nợ tôi 90 triệu và sẽ trả sau 2 tháng ( họ cam kết trong 2 tháng sẽ xin được việc cho tôi). Tuy nhiên đến nay đã hơn 1 năm A vẫn chưa xin được việc cho tôi và đưa ra đủ lý do để bạo biện như công ty đó sếp đi công tác nọ kia.


Tôi có yêu cầu đòi lại tiền nhưng họ cũng trốn tránh không chịu trả. Vô tình gần đây trên facebook tôi biết có chị B đang tố người này cũng hứa xin việc giùm và giữ của chị ấy 100 triệu nhưng 2 năm vẫn ko xin được việc và cũng không trả tiền người ta. Nay tôi xin hỏi như vậy tôi và chị B có thể cùng nhau làm đơn tố cáo người A ra công an vì tội lừa đảo được không. Người A này mới sinh con được 2 tháng, vậy họ có bị xử lý theo pháp luật không ạ. Theo pháp luật chúng tôi có được đòi lại tiền không, hoặc cô A này có quán cafe khá lớn, mặt bằng thì thuê của người khác, chúng tôi có thể yêu cầu thu giữ vật dụng trong quán để đổi thay tiền không ạ. Xin chân thành cảm ơn Luật sư nhiều.
 

Trả lời: Luật Minh Gia cảm ơn câu hỏi và đề nghị tư vấn của bạn. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp bạn đưa cho A một số tiền là 90 triệu đồng với mục đích xin việc. Tuy nhiên, bạn lại không cung cấp thông tin A có phải là người có chức vụ, quyền hạn hoặc A có thực sự có khả năng xin việc hay không do đó, nếu A không có khả năng xin việc và đưa ra những thông tin gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt số tài sản của bạn thì A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

…”

Như vậy, nếu A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn với số tiền 90.000.000 đồng thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 ĐIều 174 với mức phạt từ 02 năm đến 07 năm.

Bạn và chị B có thể cùng làm đơn trình báo và gửi đến cơ quan công an nơi bạn đang cư trú để đề nghị giải quyết. Nếu A có hành vi vi phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định.

Tuy nhiên, do A đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên căn cứ theo quy định tại Điều 67 Luật hình sự 2015, A sẽ được hoãn chấp hành hình phạt tù đến khi con đủ 36 tháng tuổi.

Trong trường hợp này bạn có căn cứ để đòi lại khoản tiền này từ A và có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bạn.

Trân trọng!

Phòng luật sư tư vấn – Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí