Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Thời hạn điều tra theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự

    • 02/07/2020
    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Thời hạn điều tra là khoảng thời gian tối đa do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó, cơ quan điều tra có thẩm quyền được thực hiện các hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác của vụ án, hoàn thành việc điều tra vụ án hình sự.

    1. Luật sư tư vấn luật hình sự

    Nếu bạn đang có nhu cầu kiểm tra các quy định của pháp luật liên quan đến thời hạn điều tra một vụ án hình sự hoặc có vướng mắc về các vấn đề khác liên quan đến hình sự thì bạn có thể liên hệ với công ty Luật Minh Gia thông qua các hình thức như gửi Email tư vấn hoặc liên hệ trực tiếp qua số Hotline 1900.6169 để được chúng tôi hỗ trợ tư vấn về các vấn đề liên quan đến pháp luật hình sự.

    Hiện nay, công ty Luật Minh Gia có hỗ trợ khách hàng tư vấn về các vấn đề liên quan đến hình sự như:

    - Tư vấn về cấu thành tội phạm đối với các tội cụ thể;

    - Thời hạn điều tra đối với từng nhóm tội phạm;

    - Vấn đề án treo, điều kiện được hưởng án treo;

    - Vấn đề xóa án tích, đương nhiên được xóa án tích;

    - Và các vấn đề khác liên quan đến pháp luật hình sự.

    2. Thời hạn điều tra vụ án hình sự

    1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

    2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

    Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

    a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

    b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

    c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

    d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

    3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

    Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

    4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

    5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:

    a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

    b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

    c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

    d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

    6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

    ----------------

    Tham khảo tình huống luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6169 như sau:

    Câu hỏi - Xử lý thế nào khi bị lừa tiền qua mạng?

    Em có vào trang face để tìm hiểu để nhận việc về nhà làm, bên đó buộc đặt cọc lúc đầu 400k và sau đó nói chiều mai nhận hàng. Khi nhận hàng thì lại bảo nộp thêm 900 nghìn tiền làm hồ sơ, Một lúc sau thì đòi gửi thêm 1,5 triệu nữa bằng thẻ viettel, tiếp tục bảo nộp cho công ty thêm cho khi số tiền lên tới 8,8 triệu rồi nhân viên giao hàng sẽ hoàn lại tiền luôn mà không thấy giao hàng còn đòi nộp cho công ty thêm tiền lên đến 12,5 triệu nên em không nộp. Em mong luật sư tư vấn cho em để kiện họ, em không mong gì lấy lại số tiền đó nhưng để cho họ khỏi lừa tiền ng khác. Em cám ơn rất nhiều ạ.

    Trả lời: Chào anh/chị, Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi tư vấn như sau:

    Hiện tại, với thông tin bạn cung cấp, chúng tôi chưa thể khẳng định hành vi của những người kia có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không. Tuy nhiên, chúng tôi cung cấp cơ sở pháp lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 - Bộ luật Hình sự 2015 để bạn tham khảo như sau:

    Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

    Đối chiếu với quy định trên, hành vi của những người tuyển dụng chỉ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu có thủ đoạn gian dối như đưa thông tin giả (thông tin tuyển dụng giả và họ không có mục đích tuyển dụng) nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn trị giá 2.000.000 đồng trở lên. Hiện tại, chưa thể kết luận thông tin tuyển dụng họ đưa ra cũng những vấn đề đặt cọc, giao trước tiền có phải là thủ đoạn gian dối hay không, đồng thời bạn cũng không nói rõ bạn đã chuyển cho họ số tiền cụ thể là bao nhiêu.

    Tuy nhiên, với những thông tin bạn cung cấp, dù chưa đủ khẳng định những người này đang lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn nhưng có căn cứ để nghi ngờ hành vi của họ có dấu hiệu của tội phạm. Vì vậy, bạn có quyền làm đơn trình báo, tố giác tội phạm gửi đến cơ quan công an tại địa phương để được điều tra, làm rõ vụ việc.

    Nếu cơ quan điều tra kết luận những đối tượng trên có hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt của bạn, đồng thời bồi thường thiệt hại phát sinh nếu có. Trường hợp những người này có hành vi lừa đảo những chưa đến mức độ xử lý hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

    Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

    1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    ...

    c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

    Hotline: 1900.6169