Bùi Thanh Hương

Quy định của pháp luật về tội hủy hoại, chiếm đoạt, giả mạo chữ ký chiếm đoạt đất đai

Cho em xin hỏi về Ngành luật Đất đai: Tội: Hủy hoại đất; Ngang nhiên chiếm đoạt và sử dụng đất trái phép, nhiều lần hành hung cả chủ sở hữu; Giả mạo chữ ký với ý đồ chiếm đoạt tài sản ( đất đai). Các tội trên được quy định trong bộ luật nào, tại các điều khoản nào và quy định xử phạt như thế nào? Trân trọng cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Vấn đề bạn đưa ra chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, Đối với việc hủy hoại đất:

Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm cho tài sản bị mất giá trị sử dụng hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản.

Cấu thành tội hủy hoại tài sản theo quy định tại điều 178 Bộ luật hình sự 2015:

 

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

 

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

 

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

 

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

 

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

 

Tội danh này sẽ cấu thành khi có đủ các yếu tố sau:

Chủ thể

Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 143 Bộ luật hình sự thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 143 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

Khách thể

Quan hệ sở hữu. Nếu sau khi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.

Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi hủy hoại làm tài sản lâm vào tình trạng mất hẳn giá trị sử dụng của nó, không thể khôi phục lại được.

Hậu quả: giá trị sử dụng của tài sản bị hư hỏng  hoặc hủy hoại. Thiệt hại gây ra phải từ 2 triệu đồng trở lên, nếu dưới 2 triệu đồng thì phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tương tự, hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi cố ý nhằm mục đích: hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác

Hình phạt cho tội này bạn có thể tham khảo bài viết sau đây.


Thứ hai, Hành vi ngang nhiên chiếm đoạt và sử dụng đất trái phép, nhiều lần hành hung cả chủ sở hữu.

Theo quy định tại điều 228 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai:


Điều 228. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

 

1. Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

 

c) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

 

Theo quy định trên, nếu người này có hành vi lần chiếm đất đai mà đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ có căn cứ cấu thành tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai và khung hình phạt được áp dụng theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự 2015 là bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.



Trường hợp đối với hành vi hành hung chủ sở hữu nếu như có thương tật xảy ra, gây tổn hại đến sức khỏe của người khác thì có thể truy cứu trách nhiệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác

Theo quy định tại điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác:


Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

 

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

 

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

 

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

 

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

 

đ) Có tổ chức;

 

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

 

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

 

i) Có tính chất côn đồ;

 

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.


Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khoẻ.

Liên quan đến vấn đề này chúng tôi đã có bài viết tương tự, bạn có thể tham khảo bài viết sau để hiểu rõ hơn về các yếu tố cấu thành tội phạm và khung hình phạt đối với tội này


Thứ ba, Hành vi giả mạo chữ kí nhằm chiếm đoạt tài sản:

Hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

 

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

 

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

 

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

 

d) Tái phạm nguy hiểm;

 

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

 

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;


Cấu thành tội này khi có đủ các yếu tố :

Chủ thể: Đạt độ tuổi do luật định và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do pháp luật hình sự quy định

Khách thể:  Xâm phạm đến quan hệ sở hữu

Mặt khách quan: Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.
Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)

Mặt chủ quan: Lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản

Hình phạt đối với tội này chúng tôi đã có bài viết liên quan đến vấn đề này, bạn có thể tham khảo để rõ hơn:

Trong trường hợp không có đủ các căn cứ, yếu tố cấu thành tội phạm thì người vi phạm có thể vị xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực liên quan.

 

 

 

Trân trọng!.
C.V Mỹ Hà – Công ty Luật Minh Gia.

Gọi ngay