Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Phân tích về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    • 13/08/2020
    • Ls Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Theo quy định của Luật hình sự 2015, sửa đổi 2017, dấu hiệu tội phạm được cấu thành từ bốn yếu tố bao gồm: mặt khách thể, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và yếu tố lỗi. Tuy nhiên, nhiều người lầm tưởng rằng, cứ đủ bốn dấu hiệu nêu trên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng thực tế là không chính xác. Luật sư sẽ làm rõ hơn về vấn đề này.

    1. Luật sư tư vấn về dấu hiệu tội phạm.

    Hiện nay không có bất kỳ điều khoản nào của Luật hình sự chỉ rõ để cấu thành tội phạm phải thỏa mãn bốn yếu tố trên mà phần lớn bốn yếu tố trên được xây dựng trên cơ sở lý luận theo các điều khoản quy định về các tội phạm. Bên cạnh đó, theo nguyên tắc của luật tố tụng hình sự thì mọi cá nhân, pháp nhân đều được suy đoán vô tội cho đến khi có bản án của tòa dựa trên các bằng chứng, chứng cứ được thu thập một cách hợp pháp. Nếu bạn đang gặp khó khăn về vấn đề này hoặc bất kì vấn đề nào của pháp luật, đừng ngần ngại liên lạc với chúng tôi qua hotline 1900.6169 để được hỗ trợ các vấn đề pháp lý như:

    - Giải đáp thắc mắc về trách nhiệm cơ quan điều tra khi tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm.

    - Tư vấn về yếu tố lỗi theo quy định luật hình sự 2015

    - Tư vấn quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam.

    - Giải đáp về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện.

    - Tư vấn và phân biệt trường hợp bắt người khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang.

    Để làm rõ hơn vấn đề này, luật Minh Gia xin gửi đến bạn tình huống cụ thể dưới đây để bạn thảm khảo và đưa ra hướng giải quyết phù hợp nhất

    2. Phân tích về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    Đây là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối, là tội phạm có cấu thành vật chất. Tội danh này được quy định cụ thể tại Điều 139 Bộ luật hình sự.

    I. Các dấu hiệu của tội phạm

    1. Chủ thể

    - Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 139 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

    - Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 139 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

    2. Khách thể

    Quan hệ sở hữu

    Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.

    3. Mặt khách quan của tội phạm

    - Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.

    Lưu ý: Gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    - Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)

    Ngoại lệ: Tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính… thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội

    4. Mặt chủ quan của tội phạm

    - Lỗi cố ý

    - Mục đích: chiếm đoạt tài sản; thực hiện được thủ đoạn gian dối (mong muốn người khác tin mình)

    II. Hình phạt

    1. Hình phạt chính

    - Phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm nếu giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

    - Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

    +) Có tổ chức;

    +) Có tính chất chuyên nghiệp;

    +) Tái phạm nguy hiểm;

    +) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    +) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    +) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

    +) Gây hậu quả nghiêm trọng.

    - Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

    +) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

    +) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

    - Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp:

    +) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

    +) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    2. Hình phạt bổ sung

    Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

    Hotline: 1900.6169