Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Phân tích về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    • 05/06/2020
    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong các hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Hiện nay, các dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm những dấu hiệu gì và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này được quy định như thế nào?

    1. Luật sư tư vấn về pháp luật hình sự

    Thông qua quá trình tư vấn pháp luật cho khách hàng qua Email, qua tổng đài tư vấn 1900.6169, công ty Luật Minh Gia nhận được rất nhiều yêu cầu tư vấn của khách hàng liên quan đến nội dung lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi phát sinh quan hệ vay tài sản.

    Tuy nhiên, cũng thông qua quá trình trao đổi với khách hàng bộ phận tư vấn pháp luật hình sự của chúng tôi nhận thấy hiện tại có rất nhiều khách hàng không xác định được trường hợp của mình có đủ dấu hiệu của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không hoặc khách hàng bị nhầm lẫn giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Nếu bạn cũng đang có những vướng mắc liên quan đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và cần được giải đáp cụ thể thì có thể liên hệ với chúng tôi theo hình thức gửi Email tư vấn hoặc gọi đến số tổng đài như đã nêu trên để được tư vấn pháp luật kịp thời, tránh các trường hợp rủi ro đáng tiếc xảy ra.

    2. Dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    I. Các dấu hiệu của tội phạm

    1. Chủ thể

    - Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 140 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

    - Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 140 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

    2. Khách thể

    Quan hệ sở hữu

    Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.

    3. Mặt khách quan của tội phạm

    - Hành vi: bao gồm các giai đoạn:

    +) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác

    +) Sau khi có được tài sản, người phạm tội không thực hiện như cam kết trong hợp đồng, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.

    - Hậu quả: người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, hoặc đã bỏ trốn, hoặc không còn khả năng trả lại tài sản.

    Người phạm tội chiếm đoạt được tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên, nếu tài sản có giá trị dưới 4 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới thì mới cấu thành tội phạm.

    4. Mặt chủ quan của tội phạm

    - Lỗi cố ý

    - Mục đích: chiếm đoạt tài sản

    II. Hình phạt

    1. Hình phạt chính

    - Phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm

    - Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm nếu thuộc một trong các trường hợp

    +) Có tổ chức;

    +) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    +) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    +) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

    +) Tái phạm nguy hiểm;

    +) Gây hậu quả nghiêm trọng.

    - Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu thuộc trong các trường hợp

    +) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

    +) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

    - Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu thuộc một trong các trường hợp:

    +) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

    +) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    2. Hình phạt bổ sung

    - Phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng

    - Bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

    - Bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    -------------

    Tham khảo thêm tình huống pháp luật Hình sự được luật sư tư vấn trực tuyến qua tổng đài: 1900.6169

    Phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

    Câu hỏi: Tôi qua người quen giới thiệu với một người khác chạy việc cho tôi về gần nhà. tôi đã lần lượt 4 lần đưa tiền (có giấy nhận tiền) dưới dạng giấy vay nợ cho đối tượng và hẹn tháng 12/2016 sẽ thanh toán tức là trả lại tiền nếu không có quyết định chuyển công tác cho tôi. thế nhưng đến nay vẫn không có kết quả. tôi nhiều lần liên hệ với đối tượng để giải quyết nhưng đối tượng vẫn khất lần hoặc hứa hẹn lung tung, thậm chí trốn không gặp mặt. vây tôi xin hỏi quý công ty luật gia:1. Với nội dung trên tôi có nên trình báo công an không? trình báo ở đâu, nơi tôi sinh sống hay nơi đối tượng sinh sống?2. Tôi phải làm đơn tố cáo với kiểu mẫu như thế nào? 3. đối tượng đã đủ cấu thành tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay tội lừa đảo?xin quý công ty giải đáp giùm tôi. hiện gd tôi rất lo chỉ mong lấy lại tiền. xin cảm ơn và mong được hồi âm sớm.

    Trả lời: Cảm ơn anh/chị đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi đã tư vấn một số trường hợp tương tự thông qua một hoặc một số bài viết cụ thể sau đây:

    >> Trình báo về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    >> Mẫu đơn trình báo

    >> Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    Trong trường hợp này cần xác định phía bên kia có thực hiện hành vi xin việc  hay không, nếu họ có mục đích chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu và sử dụng những thông tin gian dối dể lừa xin việc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn nếu như mục đích của họ phát sinh ngay sau khi nhận được tiền thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

    Anh/chị tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình! Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hộ trợ pháp lý khác Anh/chị vui lòng liên hệ bộ phận luật sư trực tuyến của chúng tôi để được giải đáp.

    Hotline: 1900.6169