Trần Phương Hà

Người khác lấy tài khoản của mình để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì giải quyết thế nào?

Luật sư tư vấn trường hợp bị người khác sử dụng tài khoản của mình để thực hiện chiếm đoạt tài sản với số tiền 21 triệu đồng thì sẽ bị xử lý như thế nào? Nếu đã tự nguyện trả lại số tiền cho bị hại thì có bị truy cứu nữa không? Nội dung tư vấn như sau

Nội dung câu hỏi:Kính gửi Công ty Luật Minh Gia. Em có trường hợp muốn hỏi nhờ Công ty Luật tư vấn giúp em. Trước đây em có dùng chứng minh thư không chính chủ để mở tài khoản ngân hàng với mục đích là để chạy quảng cáo facebook.Tuy nhiên trong quá trình sử dụng do số lượng thẻ nhiều và quá trình bảo quản thẻ lỏng lẻo em đã để người khác lấy mất thẻ và dùng thẻ đó để đi lừa đảo cụ thể là hack tài khoản facebook của người thân với số tiền là 21 triệu đồng rồi chuyển tiền vào tài khoản đó.Hiện giờ người bị lừa đã gửi hồ sơ lên công an để điều tra. Vậy xin công ty tư vấn cho em là em có phải chịu hình phạt gì không ạ và nếu trong trường hợp e giải quyết và bồi thường được với người bị hại thì có thể xin rút hồ sơ điều tra không và có phải chịu hình phạt gì không ạ?

Trả lời: Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn tạo các tài khỏan để thực hiện việc kinh doanh. Tuy nhiên, do không quản lý chặt chẽ dẫn đến việc người khác lợi dụng tài khoản này để chiếm đoạt tiền của các cá nhân khác. Người  thực hiện hành vi hack facebook  có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 do có thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 21 triệu đồng của người khác

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”

Bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do không có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu trong quá trình bạn sử dụng chứng minh thư để tạo các tài khoản có hành vi vi phạm pháp luật thì sẽ bị xử lý với hành vi đó. Tuy nhiên vì người đó đã sử dụng các thẻ bạn tạo lập để thực hiện hành vi nên bạn cần có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an để xác định đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo.

Trường hợp nếu đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo tài sản thì việc bạn hoặc người có hành vi này tự nguyện bồi thường thì cơ quan có thẩm quyền vẫn truy cứu trách nhiệm sự đối với người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì tội phạm này không thuộc các tội phạm chỉ bị khởi tố khi có yêu cầu của bị hại theo Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng

Phòng Luật sư tư vấn Hình sự - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169