Tuấn Luật sư

Luật sư tư vấn về tội cưỡng đoạt tài sản

Luật sư tư vấn đối với trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cưỡng đoạt tài sản và các vấn đề liên quan sau khi có bản án sơ thẩm của tòa án, nội dung hỏi và trả lời như sau:

tu-van-ve-toi-cuong-doat-tai-san-jpg-12092013113357-U1.jpg

Tư vấn về tội cưỡng đoạt tài sản

Câu hỏi: Chào anh chị luật sư, Em có nguơì bạn vừa rồi bị xử về tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 diều 135 BLHS, bị cáo là tên Tuyền. Theo lời khai của bị cáo là mượn 4 chiếc điện thoại của 2 em học sinh nhưng khi mượn một thời gian thì có nhận được đơn tố cáo là dùng lời nói đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản (4 chiếc điện thoại) nhưng khi gia đình bị cáo gặp trực tiếp 2 em học sinh (bị hại) để hỏi cho rõ thì các em nói la cho bị cao mượn chứ không phải bị cáo dùng lời nói đe dọa để chiếm đoạt tài sản như bản cáo trạng nêu và gia đình cũng đã nhờ 2 em học sinh viết rõ sự thật là muợn điện thoại. Khi xét xử sơ thẩm thì tòa án không đưa ra bằng chứng cụ thể mà chỉ dựa vào đơn tố cáo của người bị hại. Vậy em hỏi gia đình phải làm thế nào? cơ quan điều tra liệu có vội vàng quyết định không?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Bộ luật hình sự quy định: Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà chỉ quyết định đưa vụ án ra xét xử khi đã thấy các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, không cần phải điều tra bổ sung, không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án. Toà án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên toà và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên toà.

Theo sự trình bày của bạn thì Tòa ko đưa ra được bằng chứng cụ thể mà chỉ dựa vào đơn tố cáo của người bị hại là vi phạm thủ tục tố tụng. Như vậy, nếu không đồng tình với bản án cấp sơ thẩm đưa ra, gia đình bạn có thể làm đơn kháng cáo lên cấp xét xử phúc thẩm là toàn án nhân dân tỉnh.

Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người sau đây có quyền kháng cáo như sau:

“1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

2. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa.

3. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.

6. Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.”

Trong số những người có quyền kháng cáo, phạm vi quyền kháng cáo của họ tùy thuộc vào địa vị pháp lý của mỗi người khi tham gia tố tụng. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, nhưng những người có quyền và nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo những quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

Thời hạn kháng cáo: Theo quy định tại điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn kháng cáo của những người tham gia tố tụng và đại diện hợp pháp cho họ được quy định như sau:

“1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định…”

Như vậy, em trai bạn hoặc gia đình có quyền kháng cáo nếu thấy bản án của tòa án quá nặng hoặc xét xử sai.Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kế từ ngày tòa tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được giao, niêm yết.

Trân trọng
P. Luật sư tranh tụng - Công ty Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí