Nguyễn Ngọc Ánh

Luật sư tư vấn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Chào luật sư, tôi muốn hỏi tạm gọi như sau ah, A cán bộ vay tiền của B là người dân hai trăm triệu. Khi vay A viết giấy vay nợ về cất nhà, cam kết 3 tháng sau sẽ trả cả gốc và lãi. Sau 03 tháng A không trả, B đòi nhiều lần, A trả B 10 triệu. Đến nay là 4 năm A không trả thêm B đồng nào. B khởi kiện ra tòa. Hỏi A có phạm tội chiếm đạt tài sản không? trường hợp này A phải chịu trách nhiệm gì? xin cảm ơn luật sư

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tới công ty Luật Minh Gia! Chúng tôi xin tư vấn yêu cầu của bạn như sau:

Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

…”

Theo thông tin bạn cung cấp, bên B đã liên hệ nhiều lần đề nghị bên A trả nợ nhưng đến nay đã 04 năm, bên A mới trả được 10 triệu đồng. Do đó, xét thấy bên A có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bên B có thể liên hệ với cơ quan công an địa phương đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự trong trường hợp này. Nếu sau khi xem xét, xét thấy không đủ yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì phía B có thể khởi kiện đến Tòa án nhân dân để yêu cầu bên A thực hiện trả nợ.

Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Tới hạn trả nợ mà bên vay không trả, tức đã vi phạm nghĩ vụ trả nợ, hành vi này xâm phạm trực tiếp tới quyền và lợi ích của bên cho vay, tức bên B. Như vậy, bên B có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp huyện giải quyết để bảo vệ quyền lợi của mình. Bên B có quyền và nghĩa vụ cung cấp những tài liệu, bằng chứng để chứng minh yêu cầu của mình là đúng quy định của pháp luật.

Trân trọng!
Luật gia Nguyễn Ngọc Ánh – Công ty Luật Minh Gia.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí