Mai Hồng

Làm theo lệnh cấp trên có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không

Luật sư tư vấn trường hợp bị cấp trên lừa đảo xuất hàng nhưng không có chứng cứ, bị cắt lương không có tiền trả nợ ngân hàng thì có bị người sử dụng lao động và ngân hàng khởi khiện theo pháp luật hình sự không

Nội dung đề nghị tư vấn: Chào Luật Sư! Tôi có trường hợp của người bạn, không biết cấu thành tội và xử lý như thế nào nên nhờ Luật Sư tư vấn giúp. Trường hợp của bạn tôi như thế này: Bạn tôi là nhân viên tại công ty .. và được giao nhiệm vụ là cửa hàng phó tại cửa hàng thuộc chi nhánh của Công ty đc 1 năm rồi. Trước tết có một Anh là quản lý khu vực là sếp trực tiếp của bạn tôi có làm việc và nói bạn tôi muốn đẩy doanh số bán để tạo doanh thu cho cửa hàng thì xuất hàng và đẩy sỉ Ảnh sẽ hỗ trợ bán giúp, giao hàng xong sẽ gửi tiền trả ket sau. Nhưng khi xuất hàng và giao thì Ảnh hẹn vài lần và sau đó trốn luôn không liên lạc đồng thời nghỉ việc ngang ( trong khu vực cũng có một Anh khác bị và gia đình đã chi trả khoản tiền đó ) Bạn tôi thì ko có khả năng chi trả và cty đã ko trả lương cho bạn tôi 4 tháng liền. Do bạn tôi trc đó có vay bên Ngân hàng để giải quyết chuyện gia đình với hình thức cho vay tín dụng mà 4 tháng liên cty ko chi trả lương nên bạn tôi rơi vào trường hợp vay mượn để chi cho những vấn đề cá nhân ( như thuê nhà, ăn uống ) và ko có tiền trả cho ngân hàng khoản vay 30tr chia ra trả vốn và lời là 24thang đã trả đc 14thang. 1/ bên phía cty đòi giao bạn tôi cho CA cử lý. 2/ bên phía ngân hàng đòi kiện bạn tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Luật Sư cho tôi hỏi, trong 2 trường hợp này bạn tôi sẽ bị xử phạt như thế nào và tội danh ra sao?! Bạn tôi có hướng xử lý nào để giảm nhẹ không?!( bạn tôi ko vó khả năng chi trả vì ko có tài sản riêng chỉ có sức lao động thôi và cũng ko có chứng cứ để chứng minh mịnh bị lừa ) Mong Luật Sư tư vấn giúp tôi. Mong tin! Đã gửi từ điện thoại của tôi

 

Trả lời: Bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

 

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

 

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

 

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

 

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

 

Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

 

Căn cứ theo trình bày cuả bạn thì bạn của bạn đã bị anh quản lí khu vực gian dối về việc muốn đẩy doanh số bán hàng để bạn của bạn xuất hàng hòng  chiếm đoạt 1 số lượng hàng hóa. Tuy nhiên bạn không nói rõ giá trị số lượng hàng hóa là bao nhiêu nên chưa xác định được là có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không. Theo như bạn trình bày anh quản lí là sếp trực tiếp của bạn bạn vì vậy việc bạn bạn làm theo chỉ thị của cấp trên là việc dễ hiểu. Tuy nhiên, pháp luật không thể bảo vệ bạn của bạn nếu không có bất kì bằng chứng gì lien quan ghi nhận lại việc bạn bạn chỉ làm theo lệnh cấp trên.

 

Bạn bạn cần phải thu thập chứng cứ để chứng minh mình bị lừa đảo những chứng cứ như là cuộc trò chuyện, sms, hóa đơn xuất hàng, thông qua nhân chứng…

 

Nếu như bạn của bạn không chứng minh được mình bị lừa đảo thì bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại cho công ty theo giá trị tài sản bị mất.

 

Căn cứ theo điều 130 Bộ luật lao động 2012 về bồi thường thiệt hại

 

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sane của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

 

"Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

 

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.”

 

Căn cứ  theo điều 131 Bộ luật lao động 2012

 

“1. Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.

 

2. Trình tự, thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này.”

 

Căn cứ theo điều 130 và điều 131 Bộ luật lao động 2012 thì bạn của bạn đã làm mất mát tài sản của người sửa dụng lao động nên phải bồi thường nhiều nhất bằng 3 tháng tiền lương hoặc bồi thường một phần hoặc toàn bộ theo giá trị thị trường, trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp  sản của người lao động. Vì thế nếu gia đình của bạn bạn gặp hoàn cảnh khó khăn không có khả năng bồi thường cho công ty thì có thể làm đơn yêu cầu công thi xem xét lại mức bồi thường.  Trình tự, thủ tục, và thời hiệu căn cứ theo điều 123 và 124 của Bộ luật này. Nếu bạn đã trình bày hoàn cảnh gia đình và điều kiện tài sản của bản thân bạn bạn mà công ty không xem xét lại mức bồi thường cho thỏa đáng thì bạn bạn có thể khiếu nại theo quy định của pháp  Căn cứ theo điều 132 Bộ luật lao động 2012 "Người bị xử lý kỷ luật lao động, bị tạm đình chỉ công việc hoặc phải bồi thường theo chế độ trách nhiệm vật chất nếu thấy không thoả đáng có quyền khiếu nại với người sử dụng lao động, với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.

 

Trường hợp của bạn bạn đã trình bày nếu không chứng minh được mình bị lừa đảo, thì phải bồi thường cho công ty, bạn của bạn đã bị công ty không trả lương 4 tháng, thì bạn bạn phải xem xét việc xử lí kỉ luật này đã đúng nguyên tắc chưa, nếu không đúng cũng có quyền khiếu nại, bạn bạn vẫn đang trong quá trình làm việc tại công ty, không bỏ trốn cũng như không từ chối trách nhiệm bồi thường vì thế không có căn cứ để đưa bạn bạn ra công an.

 

Về phía ngân hàng căn cứ theo điều 463 bộ luật dân sự 2015 “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Hợp đồng giữa bạn bạn và ngân hàng là hợp đồng vay tài sản trong quan hệ dân sự, hồ sơ vay ngân hàng của bạn không có gì gian dối và việc bạn chậm trả cho ngân hàng nguyên nhân là do bạn không có khả năng trả nợ d công ty không thanh toán tiền lương cho bạn  do đó Bạn có thể thỏa thuận với ngân hàng gia hạn hợp đồng để bạn có thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Trong trường hợp bạn đã cố gắng trả nợ nhưng vẫn không có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ này, ngân hàng chỉ có thể gửi đơn khiếu nại lên Tòa án khi hai bên xảy ra tranh chấp về hợp đồng dân sự. Nếu ngân hàng muốn khởi kiện bạn Xử lý theo trình tự, thủ tục của pháp luật hình sự

 

Ở đây, chỉ khi hành vi của người bạn của bạn khi có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự mới bị truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật hình sự.

 

 

Trân trọng.
CV tư vấn: Châm Anh - Luật Minh Gia

Tư vấn miễn phí