Vũ Thị Thảo

Khách hàng tố cáo lừa đảo khi không trả tiền phí làm hồ sơ ngân hàng thì giải quyết như thế nào?

Dear Luật sư!Cho em xưng bằng anh để dễ nói chuyện nha. Em có 1 vấn đề thắc mắc, hiện giờ em rất lo lắng, không biết làm sao. Mong anh cho em xin ý kiến nha. Em hiện làm Sale ngân hàng, cách đây 1 tháng, em có làm hồ sơ cho 1 khách hàng ngân hàng của em (khách hàng A), nhưng hồ sơ bị rớt. Sau đó em có giới thiệu cho 1 người bạn (B) làm cho khách ở bên ngân hàng X .

Khi làm hồ sơ, người bạn đó thương lượng giá cả hồ sơ là phí 4tr. Khách đưa người bạn đó 4tr (gọi là phí lo hồ sơ duyệt). Thỏa thuận nếu hồ sơ rớt thì cuối tháng 31/8 sẽ trả lại 4tr. Nhưng hồ sơ sau đó bị từ chối, khi đó là ngày 15/8, lúc đó em kẹt quá em có mượn bạn đó 2tr để tiêu dùng. Em hứa là cuối tháng sẽ hoàn lại cho khách 2tr đó (vì cuối tháng em mới có lương). Sáng ngày 31/8, em chuyển trả vô tài khoản người bạn đó nói gửi cho khách 1tr trước (sao kê ngân hàng có hiển thị em chuyển khoản vô tk bạn đó 1tr). Rồi sau đó em đã gửi riêng cho khách thêm 1tr nữa. Là coi như phần em 2tr đã trả xong. Em cứ nghĩ mọi việc êm xui. Nhưng em không ngờ, người bạn kia đã khóa máy, không liên hệ được.Và không gửi khách 3tr còn lại luôn. Giờ khách tố cáo em ra công an, nói em cấu kết, lừa đảo, em rất hoang mang. Nhà em nghèo, đi làm kiếm vài đồng, nhưng giờ khách muốn em phải kêu người bạn đó ra đầu thú,thì khách mới tha cho em. Luật sư làm ơn cho em xin lời khuyên. Em không biết nhờ ai giúp. Tiền 3tr  kia em thật sự không có lấy. Mong nhận được hồi âm từ luật sư. Khi ra công an, em phãi nói thế nào? và phải làm gì? Em xin biết ơn rất nhiều. Em xin hậu tạ luật sư.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn là người giới thiệu A cho B để làm hồ sơ bên ngân hàng X, B có thương lượng phí hồ sơ là 4 triệu và A đã đưa tiền cho B. Tuy nhiên, bạn cần xác định thỏa thuận phí hồ sơ được xác lập giữa A và B hay giữa A và bạn. Trường hợp đây là thỏa thuận giữa A và B thì đây là giao dịch dân sự của A và B, nếu B đã nhận tiền A thì phải có trách nhiệm thực hiện theo những gì các bên đã thỏa thuận. Việc B không hoàn thành hồ sơ cho A thì B là người chịu trách nhiệm chứ không liên quan đến bạn. Mặt khác, bạn có vay tiền B là 2 triệu thì giữa bạn và B đã hình thành hợp đồng vay tài sản. Theo đó khi đến hạn trả, bạn phải hoàn trả cho B và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tuy nhiên, vì bạn và B đã thỏa thuận bạn sẽ chuyển khoản cho A và thực tế bạn đã chuyển cho A 1 triệu và chuyển cho B 1 triệu thì hợp đồng vay của bạn và B đã chấm dứt (trừ trường hợp A không đồng ý thay B nhận 1 triệu thì bạn có thể yêu cầu A trả lại bạn số tiền đó để bạn hoàn trả cho B).

Trường hợp A tố cáo bạn về tội lừa đảo thì phải chứng minh được bạn dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của A, cụ thể Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ…”

Theo đó, lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của một người bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao gìơ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể mà thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, chỉ khi có hành vi thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định trên thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đối chiếu với trường hợp của bạn, bạn chỉ là người giới thiệu khách hàng A cho B và bạn không tham gia thỏa thuận chi phí làm hồ sơ giữa của A, B thì việc A làm đơn tố cáo bạn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chưa có căn cứ, tức là có thể chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự bạn về tội này.  

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng 

Phòng Luật sư tư vấn Hình sự - Công ty Luật Minh Gia.

Gọi ngay