Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Hỏi về áp dụng khung hình phạt đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    • 09/03/2019
    • Ls Nguyễn Mỵ
    • Bạn em đã bị cơ quan công an điều tra trong quá trình điều tra bạn em đã thành khẩn nhân tội và đã khai báo rằng: đã sử dụng mạng internet để lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin mà đã chiếm đoạt số tiền là trên dưới 10 triều tiền bằng thẻ cào điện thoại (đây là sự khai báo chứ không hề có sự khiếu nại từ người bị hại).


    Vậy cho em hỏi với mức phạm tội như vậy bạn em có thể được xử phạt ở những khung quy định nào ạ. Trong khi bạn em phạm tội lần đầu có nhân thân tốt, có gia đình (3 người,1 vợ, 1 chồng, 1 con nhỏ 6 tháng tuổi). Hành vi phạm tội ko thuộc gây ảnh hưởng nghiêm trọng và số tiền không quá lớn (không có người khiếu nai), bạn em là thu nhập chính cho cả gia đình.

    Vậy cho em hỏi bạn em có thể xử phạt theo những khung nào của pháp luật và khi viện kiểm soát quyết định bạn em có thể xin xem xét cho hưởng án treo được không ạ.
     

    Trả lời tư vấn. Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới công ty Luật Minh Gia. Trường hợp này chúng tôi vấn cho bạn như sau:
     

    Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

    Căn cứ theo quy định tại Điều 174 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:
     

    1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

     a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

     b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

     c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    d) Tái phạm nguy hiểm;

    đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    Đối với trường hợp này của người bạn của bạn, người bạn của bạn có hành vi dùng internet thông qua thẻ cào điện thoại để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ để xác định xem thủ đoạn này có được coi là dùng thủ đoạn xảo quyệt để thực hiện hành vi phạm tội hay không. Theo đó, mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này tuỳ vào tính chất mức độ gây nguy hiểm cho xã hội mà người bạn của bạn đã thực hiện. Tính chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội càng lớn thì khung hình phạt càng tăng nặng và ngược lại. Do đó, đối với trường hợp này do bạn chưa nói rõ tính chât và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của người bạn của bạn chưa thể xác định được bạn của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015.

    Về điều kiện được hưởng án treo:

    Căn cứ theo quy định tại Điều 2 về Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo của Nghị quyết 02/2018/NĐ-CP về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

    Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

    2. Có nhân thân tốt.

    Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

    Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

    3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

    Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

    Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

    Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

    5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 3 về Những trường hợp không cho hưởng án treo của Nghị quyết 02/2018/NĐ-CP về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

    1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

    3. Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

    4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

    5. Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

    6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

    Đối với trường hợp này của người bạn của bạn, nếu như người bạn của bạn có hành vi cấu thành thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1, Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 và đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 2 về Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo của Nghị quyết 02/2018/NĐ-CP về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì sẽ có thể được Tòa án xem xét được hưởng án treo.
     

    Tuy nhiên, nếu người bạn của bạn hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 2, Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 bị áp dụng tình tiết là dùng thủ đoạn xảo quyệt theo để thực hiện hành vi phạm tội thì người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt không được xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 về Những trường hợp không cho hưởng án treo của Nghị quyết 02/2018/NĐ-CP về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

    Trân trọng!

    Cv. Nguyễn My - Công ty Luật Minh Gia.
     

    Hotline: 1900.6169