Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Hỏi tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

    • 12/03/2019
    • Bế Thanh Tùng
    • Kính gửi công ty Luật Minh Gia!tôi có quen và chơi thân với 1 người anh em, là a e chơi thân với nhau nên tôi hoàn toàn tin tưởng người ấy về mọi thứ, cả trong lĩnh vực làm ăn. chúng tôi làm ngành dịch vụ bán vé máy bay. vừa qua tôi có gửi cho người ấy danh sách các đoàn vé, người đó đã nhận làm và thu tiền.


    Xong tới ngày hẹn mà vẫn chưa trả vé cho tôi, và thất hứa rất nhiều lần, và cuối cùng tới ngày khách bay vẫn chưa có vé, và khách phải đi mua vé chỗ khác trong khi tiền đã thu và nhận lời làm rồi. tôi còn lưu biên lai chuyển tiền và đoạn chat sms qua facebook, zalo. Tổng số tiền lên đến 200 triệu.Ngoài ra, người này còn nhận xin dùm cho e trai tôi vô làm an ninh sân bay Tân Sơn Nhât với số tiền nhận là 200 triệu đồng. xong tới nhiều lần hẹn nhưng vẫn không lo xong việc. tôi còn lưu hình ảnh đoạn chat sms với người đó qua Zalo, người đó thừa nhận là đã thiếu tôi tất cả là 369 triệu đồng và hẹn hôm nay là 26/11 sẽ trả đầy đủ. Vậy tôi xin hỏi, hành vi trên có cấu thành tội lừa đảo ko nếu như hôm nay 26/11 mà người đó ko trả đầy đủ số tiền đó cho tôi? nếu cấu thành tội lừa đảo thì với số tiền như thế sẽ chịu mức xử phạt như thế nào?và có cách nào để yêu cầu người đó trả tiền cho tôi ko?Tôi xin cảm ơn.
     

    Trả lời: Cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Yêu cầu của bạn tôi tư vấn như sau:

     

    Thứnhất, đối với hành vi thu tiền nhưng không thực hiện giao dịch, đưa vé cho khách hàng:

     

    Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

     

    “Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

     

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

     

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

     

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    ...”

     

    Theo đó, dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là dựa trên hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác thông qua hợp đồng vay hoặc nhận được tài sản của người khác thông qua hình thức hợp đồng sau đó, dùng thủ đoạn gian dối để bỏ trốn hoặc chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

     

    Trong trường hợp này, hợp đồng trên là hợp đồng cung ứng dịch vụ, bên nhận cung ứng dịch vụ là khách hàng, còn bên cung ứng là hai bạn. Tuy nhiên, bạn của bạn đã có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.  Do đó, hành vi này có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định nêu trên.

     

    Thứ hai, đối với số tiền mà bạn đưa cho người này để người này xin cho em bạn vào làm tại sân bay sau nhiều lần vẫn không được.

     

    Bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

     

    “Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

     

    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

     

    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

     

    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

     

    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

     

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

    ...”

     

    Về khách quan, tội này phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

     

    Trong trường hợp này, bạn đã đưa cho người đó 200 triệu để xin việc cho em vào sân bay nhưng người này lại dùng thủ đoạn gian dối để bạn giao tiền mà không thực hiện lời hứa. Do đó, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo căn cứ tại điều trên. Tuy nhiên, để buộc tội người này bạn cần đưa ra các căn cứ chứng minh giao dịch giữa hai bạn.

     

    Trân trọng!
    CV Nông Lan – Công ty Luật Minh Gia.

    Hotline: 1900.6169