Lò Thị Loan

Hình phạt đối với người phạm tội cố ý gây thương tích

Cháu có đứa em trai phạm tội là đánh nhau. Và bị phạt tù giam là 24 tháng.
Sau đây cháu xin kể lại sự việc mà em cháu vi phạm để các cô chú tư vấn giúp cháu với. Em trai cháu khi đi chơi thì có mấy đứa bạn đánh nhau gần đấy gọi tới giúp nó. Khi tới thì nhóm của em trai cháu gồm có 5 đứa, có 2 đứa đánh trước rồi gọi em cháu tới giúp thì người nhà 2 đứa đó giữ lại không cho đi. Còn lại 3 đứa có em trai cháu. Hai đứa kia thì cầm dao, em cháu thì cầm 1 cây sắt. Rồi sang chỗ thằng kia đánh nhau, bên kia có 1 thằng cũng cầm dao rồi hai bên đánh nhau. Kết quả là bên nhóm em trai cháu 2 đứa bạn của em cháu đứa thì bị chém tỉ lệ thương tật là 18%  đứa nữa thì 11% còn em cháu không bị gì. Còn bên kia thì bị chém có thương tật là 13%. Khi đánh nhau thì em cháu có tham gia nhưng chỉ đứng ở ngoài xa. Phiên tòa vừa rồi xử em cháu 26 tháng tù, thằng bị 18% thương tật thì bị 24 tháng tù, còn đứa 32 tháng bị thương tật 11% là chủ mưu. Giờ gia đình cháu kháng án. Luật sư cho cháu hỏi em cháu có thể giảm án xuống được không ạ. Cháu xin cảm ơn luật sư!
 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Em bạn tham gia đánh nhau cùng với 2 người bạn khác, đã có chuẩn bi công cụ phạm tối (dao, gậy sắt), do đó em bạn được xác định là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017:

“Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

Hành vi của em trai bạn cùng 2 người khác đánh nhau gây thương tích cho người khác, theo quy định tại Điều 134 - Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 về tội cố ý gây thương tích như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

...”

Theo như thông tin bạn cung cấp thì chúng tôi hiểu rằng em bạn có ý định tham gia đánh nhau và đã chuẩn bị công cụ phạm tôi (em bạn có cầm 1 gậy sắt) nhưng không tham gia đánh nhau mà chỉ đứng ở ngoài xa. Gia đình bạn có thể yêu cầu Tòa án xem xét tình tiết này để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho em trai bạn; trường hợp em trai bạn có một trong các tình tiết giảm nhẹ sau đây thì gia đình có thể yêu cầu tòa án xem xét theo Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

“Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

...

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

...

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.”

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự có quy định về việc xem xét cho người phạm tội được hưởng án treo, cụ thể:

“Điều 65. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.”

Trân trọng!

Phòng luật sư tư vấn -  Công ty Luật Minh Gia

 
 

Tư vấn miễn phí