Hỏi đáp pháp luật Hình sự

  • Hành vi giả mạo chữ ký có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

    • 11/03/2019
    • Ls Nguyễn Phương Lan
    • Luật sư tư vấn về hành vi giả mạo chữ ký có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Nội dung tư vấn như sau:


    Nội dung tư vấn: Kính gửi,
    Sự việc tranh chấp của gia đình tôi như sau:
    Ông bà nội tôi có một lô đất và có bốn người con.
    Ông tôi mất trước. Năm 2002, lúc còn sống , Bà nội tôi đã lập di chúc để lại lô đất trên cho bố tôi (trưởng nam) và ba chú. Thành phần có mặt tham gia gồm Bà tôi, hai người hàng xóm làm chứng và bốn người thừa kế. Trên di chúc được lập có các ghi rõ phần đất mỗi người được chia. Cụ thể về sau, trên sổ đỏ, bố tôi là 140 m2; chú thứ là 248 m2; chú ba là 70 m2; chú út là 140 m2. Trong đó, phần đất của chú hai nằm ở phía trong cùng. Khi đi lại phải đi qua ba phần đất còn lại. Để được chia phần đất lớn như trên, chú hai tôi đã đồng ý với thỏa thuận chung và tự tay viết vào di chúc nội dung: “đất thừa kế không được bán cho người ngoài gia đình”. Di chúc có chữ ký của bốn người thừa kế, không có các chữ ký hay điểm chỉ của bà tôi cũng như của hai người làm chứng.
    Cùng năm đó, Bà tôi đã chủ trì đo đạc tách sổ cho mọi người theo di chúc. Biên bản đo đạc có đầy đủ chữ ký và sự tham gia của các hộ liền kề, địa chính, người làm chứng và xác nhận của ủy ban nhân dân xã. Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp vào năm 2005.
    Đến nay, mặc dù nội bộ gia đình đã họp bàn, quyết định không đồng ý cho bán phần đất tổ tiên được thừa kế trên cho người ngoài, chú hai tôi đã tự ý chủ trì, cho đo đạc lại với mục đích cố ý thay đổi hiện trạng. Việc đo đạc này không có sự tham gia cũng như xác nhận của Bố tôi, chú ba, chú út và các chủ sở hữu đất liền kề với thửa đất của chú hai.
    Vậy, tôi xin trình bày một số câu hỏi, thắc mắc dưới đây, mong Quý Công ty giải đáp và hướng dẫn gia đình tôi bảo vệ các quyền lợi hợp pháp:
    - Căn cứ pháp lý để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố tôi, các chú tôi có đúng không? Nội dung thỏa thuận về việc Không được bán đất ghi trên Di chúc của gia đình tôi có được coi là nghĩa vụ phải thực hiện theo pháp luật không?
    - Biên bản được lập về việc đo đạc lại do chú tôi chủ trì như trên có được pháp luật công nhận không? Khung hình phạt đối với tội giả mạo chữ ký người khác trong trường hợp này là gì?

    - Trường hợp sổ đỏ đã thay đổi sơ đồ hiện trạng thửa đất của chú tôi, bằng mọi cách nào đó mà có được thì gia đình chúng tôi có các quyền, quyền lợi gì được pháp luật bảo vệ và thủ tục, trình tự mà gia đình tôi phải làm là như thế nào? Bản vẽ thay đổi hiện trạng thửa đất khi cấp đổi sổ đỏ sẽ được thể hiện trên sổ cũ hay sổ mới? Nếu ngụy tạo sổ đỏ và giấy tờ liên quan tới đất đai để lừa dối người có nhu cầu mua đất, người mua đất thì khung hình phạt là gì?

    Xin trân trọng cảm ơn!
     

    Trả lời:  Chào anh, cảm ơn anh đã gửi yêu cầu tư vấn cho công ty Luật Minh Gia chúng tôi, công ty xin được tư vấn về trường hợp này như sau:

    Thứ nhấttheo như anh nói thì di chúc mà bà anh lập không có chữ ký của bà anh và hai người làm chứng thì di chúc này sẽ không có hiệu lực pháp luật và như vậy, kéo theo đó, thỏa thuận giữa bố anh và các chú trong di chúc đó cũng được coi là không có hiệu lực nếu như thỏa thuận này được viết trong nội dung có tiêu đề về di chúc . Bên cạnh đó, bà chị trong cùng năm đã chủ trì đo đạc tách sổ cho các thành viên trong gia đình thì đây không được coi là tách sổ theo di chúc vì việc chia tài sản theo di chúc chỉ đặt ra khi bà nội chị đã mất; cho nên, đây chỉ là hình thức tách sổ theo hợp đồng để chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho các con thôi.

    Thứ hai, các thành viên trong gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2005; cho nên, với diện tích đất của mỗi người được hưởng sẽ thuộc quyền sở hữu cũng như định đoạt của mỗi chủ sở hữu tương ứng nên chú của anh hoàn toàn có quyền chuyển nhượng cho người khác bởi thỏa thuận về việc không bán đất cho người ngoài không có xác nhận hay chữ ký của người làm chứng thì thỏa thuận này khó có thể lấy làm bằng chứng để ngăn cản chú anh bán đất.

    Vậy nên, đối với trường hợp này chú anh chỉ có thể tự do chuyển nhượng cho người ngoài đối với phần diện tích trong sổ đỏ của chú anh trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi đó không cần có sự đồng ý của những thành viên còn lại.

    Còn nếu như trường hợp chú anh định đoạt mảnh đất ngoài phạm vi sở hữu của chú anh đồng thời giả mạo chữ ký và ngụy tạo sổ đỏ có liên quan đến phần đất của những người khác để chiếm đoạt tài sản, tước quyền thừa kế của ngươì khác hoặc giả mạo để thực hiện hợp đồng mua bán thì có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 174 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:
     

    1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

     a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

     b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

     c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

    d) Tái phạm nguy hiểm;

    đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

    c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.


    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

    c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.


    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 

    Trân trọng!

    Phòng luật sư tư vấn - Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169